|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 06/2026/HNGĐ-ST Ngày: 02/02/2026 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.
Bà Nguyễn Thị Bẩy.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2025/TLST-HNGĐ ngày 02/4/2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/11/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1994; địa chỉ: Khu phố D, phường S, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1991; địa chỉ: Khu phố K, phường P, tỉnh Bắc Ninh. Hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là chị Đỗ Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường P, tỉnh Bắc Ninh) cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/3/2023. Khi kết hôn, chị và anh M thỏa thuận không sống chung cùng nhau, nhà ai đó người ở, ai sống cuộc sống của người ấy. Sau khi kết hôn, ngày 13/3/2023, anh M đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản luôn. Trong thời gian anh M ở Nhật Bản, anh M ngày đêm gọi điện quấy rầy, chửi bới. Kể cả khi đi tắm, anh M cũng bắt chị H phải nghe điện thoại qua ứng dụng messenger (gọi bằng hình ảnh), anh M chụp lại hình khỏa thân của chị H và có hành vi đăng lên tài khoản facebook cá nhân của anh M có tên “Nguyễn Văn M”. Anh M bắt chị phải nghe điện thoại 24/24 giờ, nếu chị H không nghe, không thực hiện theo yêu cầu thì anh M đe dọa, chửi bới và dọa đăng ảnh khỏa thân của chị H lên facebook. Nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn được, mâu thuẫn đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí ly hôn và các chi phí tố tụng khác: Chị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Bị đơn hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản nên Hội đồng xét xử không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng theo trình tự thủ tục tố tụng.
Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH; xử: Cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn M. Về con chung, tài sản và công nợ: Không giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn đề ngày 17/02/2025, chị Đỗ Thị H đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn M. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của chị Đỗ Thị H, anh Nguyễn Văn M có hộ khẩu thường trú tại khu phố K, phường P, tỉnh Bắc Ninh; tại thời điểm thụ lý vụ án anh M đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về thời gian xuất nhập cảnh của anh M tại Phòng Q - Công an tỉnh B được biết, anh M đã xuất cảnh lần gần nhất là ngày 29/06/2025 qua Cửa khẩu sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Do anh Nguyễn Văn M đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản nên Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh M thông qua việc ủy thác tư pháp. Ngày 29/11/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh nhận được kết quả ủy thác tư pháp thể hiện, hồ sơ ủy thác tư pháp đã được giao ngày 12/8/2025 cho bị đơn là anh Nguyễn Văn M thông qua đồng nghiệp tại Công ty TNHH H1, 1390-1 Ebise, Itakura-machi, Ora-gun, tỉnh Gunma, Nhật Bản. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập cho nguyên đơn chị Đỗ Thị H nhưng chị H có đơn xin xét xử vắng mặt.
Căn cứ cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn M kết hôn ngày 07/3/2023, tại thời điểm kết hôn chị H và anh M đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định và được Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường P, tỉnh Bắc Ninh) cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Do đó, mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh M là hợp pháp.
Sau khi kết hôn được khoảng 06 ngày thì anh M đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Chị H trình bày, trong thời gian anh M ở Nhật Bản, anh M ngày đêm gọi điện quấy rầy, chửi bới và đe dọa đăng ảnh khỏa thân của chị H lên mạng xã hội facebook.
Về phía anh Nguyễn Văn M hiện đang cư trú tại Nhật Bản. Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp để tống đạt các văn bản tố tụng cho anh M. Tuy nhiên, đến nay anh M vẫn không gửi bản tự khai cũng như quan điểm đối với việc giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử nhận thấy, chị H và anh M đã sống ly thân, chị H sinh sống ở Việt Nam còn anh M sinh sống ở Nhật Bản, khoảng cách địa lý khiến cuộc hôn nhân không còn ý nghĩa, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ, đủ điều kiện ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
- Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị H, anh M không có con chung, không có tài sản chung, không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và lệ phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị H.
- Chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
- Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Không giải quyết.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 200.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp. Xác nhận chị H đã nộp 500.000 đồng theo các Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000376 ngày 01/4/2025 và 0000379 ngày 08/4/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh (nay là Chi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
Hoàn trả chị Đỗ Thị H số tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000379 ngày 08/4/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - THADS tỉnh Bắc Ninh; - UBND phường Phù Khê, tỉnh BN. - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tuyết Mai |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị Bẩy Trần Minh Phương | Nguyễn Văn Tính |
5
Bản án số 06/2026/HNGĐ-ST ngày 02/02/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 06/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/02/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đỗ Thị H ly hôn anh Nguyễn Văn M
