TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 06/2025/KDTM-ST
Ngày 14 tháng 11 năm 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Ninh và bà Phạm Thị Mơ.
Thư ký phiên toà: Bà Nhiếp Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa:
Ông Trương Hoàng Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 02/2025/TLST-KDTM ngày 19 tháng 6 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 9 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-KDTM ngày 22 tháng 9 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-KDTM ngày 08 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 16/2025/QĐST-KDTM ngày 07 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N; địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội (cũ) nay là số B L, phường G, Thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật ông Phạm Toàn V - Chức vụ: Tổng Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Đức C - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện T. Người đại diện theo ủy quyền của ông C là bà Nguyễn Thị Mỹ L - Chức vụ: Phó phòng khách hàng - Ngân hàng N chi nhánh T; bà L có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn:
Ông Phạm Văn S, sinh năm 2000 và bà Phạm Thị L1, sinh năm 2001; cùng nơi cư trú: Tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam (cũ) nay là tổ D, phường C, tỉnh Ninh Bình; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/06/2025, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - ông Lương Đức C trình bày và và trong quá trình xét xử đại diện theo uỷ quyền của ông C - bà Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:
Ngày 30 tháng 01 năm 2024, ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 và Ngân hàng N (A) - Chi nhánh huyện T có ký Hợp đồng tín dụng số: 2901-LAV-202400335 ngày 30 tháng 01 năm 2024.Theo Hợp đồng tín dụng trên A Chi nhánh huyện T có cho ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 vay:
- + Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
- + Mục đích vay: Mua bán quần áo may sẵn.
- + Thời hạn duy trì hạn mức tối đa: 12 tháng, kể từ ngày 30/01/2024 đến ngày 30/01/2025; Phương pháp áp dụng lãi suất lãi suất cho vay có điều chỉnh = Lãi suất tiền gửi tiết kiệm 12 tháng trả lãi sau theo thông báo của Tổng Giám đốc Ngân hàng N cộng trừ biên độ tối đa 4% đối với khoản vay dưới 12 tháng nhưng không được vượt mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định của Ngân hàng N1 trong từng thời kỳ. Lãi suất trong hạn theo từng báo cáo đề xuất, giải ngân, kiêm giấy nhận nợ. Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150%.
Để bảo đảm cho khoản vay trên, ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 đã thế chấp cho Ngân hàng N (A) - Chi nhánh huyện T II các tài sản như sau:
1. Thửa đất số 19; tờ bản đồ số PL18; diện tích: 461 m² (Bốn trăm sáu mươi mốt m²); địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam.
- + Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng: 461 m².
- + Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại nông thôn 245m²; Đất bằng trồng cây hàng năm khác: 216m².
- + Thời hạn sử dụng đất: Đất ở tại nông thôn: Lâu dài ; Đất bằng trồng cây hàng năm khác: 31/12/2063.
- + Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất 245m2; Nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất 216m².
Và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam gồm:
- Loại nhà: Nhà xây kiểu biệt thự- Diện tích xây dựng: 490 m².
- Kết cấu nhà: Bê tông cốt thép;- Cấp (hạng): cấp 3.
- Số tầng: 02 tầng 01 tum- Thời hạn sở hữu: lâu dài.
Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số seri DO 516547 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024; Số vào sổ: VP08770.
Theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DO 516547/HĐTC ngày 29/01/2024 được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 389, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD.
2. Thửa đất số 20; Tờ bản đồ số PL18; diện tích 179 m² (Một trăm bảy mươi chín m²); địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam.
- + Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng: 179 m²;
- + Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại nông thôn;
- + Thời hạn sử dụng đất: Đất ở: Lâu dài.
- + Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất;
Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số seri DO 516548 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024; Số vào sổ: VP08771.
Tuy nhiên, từ khi được Ngân hàng giải ngân cho đến nay ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 mới trả được cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T số tiền gốc và lãi cụ thể như sau:
Tính đến ngày 19/05/2025 (Theo số liệu nội dung đơn khởi kiện) ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc: 0 đồng; Số tiền lãi: 12.739.726 đồng;
Như vậy, ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 còn dư nợ tại Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T tính đến ngày 19/05/2025 số tiền như sau:
- + Gốc: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
- + Lãi trong hạn: 182.465.754 đồng.
- + Lãi quá hạn: 21.575.342 đồng.
- + Tổng cộng lãi: 204.041.096 đồng.
Hiện nay số nợ trên đã quá hạn thanh toán, Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T đã nhiều lần làm việc trực tiếp và/hoặc có văn bản yêu cầu ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số 2901-LAV-202400335 ngày 30/01/2024. Tuy nhiên, đến nay ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1, vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với Ngân hàng, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của Ngân hàng.
Với nội dung nêu trên, Ngân hàng N (A) khởi kiện và yêu cầu Tòa án tuyên:
1. Tuyên buộc ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T toàn bộ số tiền tạm tính (Do còn nợ gốc nên lãi vẫn tiếp tục phát sinh) đến hết ngày 19/05/2025 là: 2.204.041.096 (Hai tỷ hai trăm linh bốn triệu không trăm bốn mốt nghìn không trăm chín sáu đồng), trong đó:
- + Gốc: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng);
- + Lãi trong hạn: 182.465.754 đồng;
- + Lãi quá hạn: 21.575.342 đồng;
2. Tuyên buộc ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 2901-LAV-202400335 ngày 30/01/2024, kể từ ngày 19/5/2025 cho đến ngày thực tế ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.
3. Trường hợp ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 theo các hợp đồng thế chấp sau đây để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật:
- + Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DO 516547/HĐTC ngày 29/01/2024 được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 389, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD.
- + Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số DO 516548/HĐTC ngày 29/01/2024 được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 390, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD.
4. Tuyên nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T thì Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
* Tại Bản tự khai đề ngày 17/7/2025 và trong quá trình xét xử, bị đơn - bà Phạm Thị L1 trình bày:
Ngày 30 tháng 01 năm 2024 tôi cùng chồng tôi là ông Phạm Văn S và Ngân hàng N (A) - Chi nhánh huyện T có ký Hợp đồng tín dụng số: 2901-LAV-202400335 ngày 30 tháng 01 năm 2024. Theo hợp đồng tín dụng trên Ngân hàng N (A) - Chi nhánh huyện T II có cho vợ chồng tôi vay:
- + Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
- + Mục đích vay: Mua bán quần áo may sẵn;
- + Thời hạn trả nợ cuối cùng ngày 30/01/2025 (thời hạn vay là 1 năm);
Để bảo đảm cho khoản vay trên, vợ chồng tôi đã thế chấp cho Ngân hàng N (A) - Chi nhánh huyện T II các tài sản như sau:
1. Thửa đất số 19; tờ bản đồ số PL18; diện tích 461m² (Bốn trăm sáu mươi mốt m²).
- + Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng: 461m².
- + Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại nông thôn 245m²; Đất bằng trồng cây hàng năm khác: 216m².
- + Thời hạn sử dụng đất: Đất ở tại nông thôn : Lâu dài ; Đất bằng trồng cây hàng năm khác: 31/12/2063.
- + Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được Công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất 245m²; Nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất 216m².
Và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam gồm:
- Loại nhà: Nhà xây kiểu biệt thự- Diện tích xây dựng: 490 m².
- Kết cấu nhà: Bê tông cốt thép;- Cấp (hạng): cấp 3.
- Số tầng: 02 tầng 01 tum- Thời hạn sở hữu: Lâu dài.
Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số seri DO 516547 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024; Số vào sổ: VP08770.
Theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DO 516547/HĐTC ngày 29/01/2024 được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 389, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD.
2. Thửa đất số 20; Tờ bản đồ số PL18; diện tích: 179m² (Một trăm bảy mươi chín m²).
- + Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng: 179 m²;
- + Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại nông thôn.
- + Thời hạn sử dụng đất: Đất ở: Lâu dài.
- + Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất;
Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số seri DO 516548 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024; Số vào sổ: VP08771.
Sau khi vay số tiền trên, do việc kinh doanh của vợ chồng tôi gặp nhiều khó khăn, nên vợ chồng tôi mới trả cho Ngân hàng N (A) - Chi nhánh huyện T được 1 tháng lãi đầu tiên là 12.739.726 đồng.
Đến nay, Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T khởi kiện yêu cầu vợ chồng tôi phải thanh toán số tiền gốc và lãi cụ thể như sau:
- + Gốc: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
- + Lãi trong hạn: 182.465.754 đồng (Tạm tính đến hết ngày 19/05/2025).
- + Lãi quá hạn: 21.575.342 đồng (Tạm tính đến hết ngày 19/05/2025).
- + Tổng cộng lãi: 204.041.096 đồng (Tạm tính đến hết 19/05/2025).
Do hiện nay, vợ chồng tôi không có khả năng thanh toán cho Ngân hàng N (A) - Chi nhánh huyện T II số tiền nợ trên, chồng tôi hiện đang ở đâu tôi không rõ. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Đối với bị đơn là ông Phạm Văn S: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần Thông báo cho ông S đến Tòa án để tự khai và tham gia các phiên hòa giải, nhưng ông S đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành làm việc với vợ anh là bà Phạm Thị L1, bà L1 cung cấp: Ông Phạm Văn S đã bỏ đi khỏi nhà từ khoảng đầu tháng 3/2024, khi đi ông S không nói với gia đình là đi đâu, làm gì. Từ đó đến nay, chị L1 và gia đình không có thông tin gì về ông S, không biết ông S hiện đang ở đâu. Để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật bà đề nghị Tòa án Thông báo tìm kiếm ông Phạm Văn S trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ngày 21/8/2025, Tòa án đã tiến hành Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Phạm Văn S trên B và phát sóng trên bản tin của Ban Đ (VOV5). Tuy nhiên, ông Phạm Văn S vẫn vắng mặt tại các buổi làm việc cũng như phiên hòa giải, vì vậy Tòa án không tiến hành ghi nhận được ý kiến của ông Phạm Văn S.
* Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/8/2025, xác định:
1. Tài sản thứ nhất: Thửa đất số 19, tờ bản đồ 18, diện tích 461m² ( trong đó đất ở tại nông thôn 245m²; đất trồng cây hàng năm khác 216m²), địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 516547 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024 cho ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1. Tài sản trên đất, gồm: 01 nhà 2 tầng, kết cấu bê tông cốt thép, mái thái diện tích 161m²/1 sàn, 2 sàn là 322m², chiều cao 10,6m, cầu thang trong nhà, khu công trình phụ khép kín; 01 nhà cấp 4 lợp mái tôn, diện tích 21m², cao 3m; bể nước diện tích (6x1,2)m; lán tôn 40m², cao 3m; sân bê tông diện tích 160m².
2. Tài sản thứ hai: Thửa đất số 20, tờ bản đồ số PL18, diện tích 179m² (đất ở tại nông thôn, sử dụng lâu dài), địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 516548 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024 cho ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1. Tài sản trên đất, gồm: một phần nhà 2 tầng, kết cấu bê tông cốt thép, mái thái diện tích 23m², chiều cao 10,6m; sân bê tông diện tích 155m².
* Quá trình hoà giải: Nguyên đơn, bị đơn xác định. Tính đến ngày 05 tháng 9 năm 2025, bà Phạm Thị L1 và ông Phạm Văn S còn nợ Ngân hàng N toàn bộ số tiền tạm tính là: 2.271.849.315 (Hai tỷ hai trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm bốn mươi chín nghìn ba trăm mười lăm đồng), trong đó:
- + Gốc: 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng).
- + Lãi trong hạn: 227.671.233 đồng.
- + Lãi quá hạn: 44.178.082 đồng .
Tính đến ngày xét xử 14 tháng 11 năm 2025, nguyên đơn xác định: Bà Phạm Thị L1 và ông Phạm Văn S còn nợ Ngân hàng N là 2.315.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm mười lăm triệu đồng), trong đó:
- + Gốc: 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng).
- + Lãi trong hạn: 256.438.356 đồng.
- + Lãi quá hạn: 58.561.644 đồng.
* Tại phiên tòa:
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên.
- Ý kiến của Kiểm sát viên: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự giải quyết vụ án và phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn bà Phạm Thị L1 đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Phạm Văn S chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 30, điển b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, khoản 4 Điều 74, 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các điều 117, 119, 217, 213, 216, 217, 218, 274, 280, 292, 293, 295. 299, 317, 318, 319, 320; khoản 7 Điều 323, 357; khoản 1, 2 Điều 429, Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015; các điều 99, 100, 107 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; các điều 166, 167, 168, 170 của Luật Đất đai năm 2013; căn cứ các điều 29, 33, 35, 36, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Điều 56 Nghị định 163 ngày 29/3/2006 về giao dịch dân sự bảo đảm; Nghị định 83 ngày 23 tháng 7 năm 2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm; Luật phí, lệ phí số 97 ngày 25 ngày 11 tháng 2015 của Quốc Hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T. Buộc ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 phải trả cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T tính đến ngày xét xử sơ thẩm 14/11/2025 số tiền là 2.315.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm mười lăm triệu đồng), trong đó: Gốc: 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng); lãi trong hạn: 256.438.356 đồng; lãi quá hạn: 58.561.644 đồng.
Ngoài ra, ông S, bà L1 phải chịu tiền lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (15/11/2025) trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng 2901-LAV-202400335 ngày 30 tháng 01 năm 2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T.
Nếu ông S, bà L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp theo kết quả thẩm định tại chỗ để thu hồi nợ, gồm:
- - Quyền sử dụng thửa đất số 19, tờ bản đồ 18, diện tích 461m² ( trong đó đất ở tại nông thôn 245m²; đất trồng cây hàng năm khác 216m²), địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 516547 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024 cho ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 và tài sản gắn liền với đất theo kết quả thẩm định ngày 28/8/2025. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DO 516547/HĐTC ngày 29/01/2024 được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 389, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD.
- - Quyền sử dụng thửa đất số 20, tờ bản đồ số PL18, diện tích 179m² (đất ở tại nông thôn, sử dụng lâu dài), địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 516548 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024 cho ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 và tài sản gắn liền với đất theo kết quả thẩm định ngày 28/8/2025. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DO 516548/HĐTC ngày 29/01/2024 được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 390, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD.
- Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T về việc “Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A thì A thông qua A Chi nhánh huyện T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Phạm Thị L1, ông Phạm Văn S để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật”.
Về chi phí tố tụng: Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. Về án phí: Ông S, bà L1 phải nộp án phí kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ vào nội dung Đơn khởi kiện của Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 hiện cư trú tại: tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam (C) nay là tổ D, phường C, tỉnh Ninh Bình; căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số: 85/2025/QH15 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm (C) nay là Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Văn S vắng mặt không có lý do; bà Phạm Thị L1 vắng mặt; Toà án nhân dân khu vực 5 Ninh Bình đã tiến hành thủ tục đăng thông tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông S. Theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
Xét tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng 2901-LAV-202400335 ngày 30 tháng 01 năm 2024, Hợp đồng thế chấp số DO516547/HĐTC ngày 29/01/2024 và số Hợp đồng thế chấp số DO516547/HĐTC ngày 29/01/2024 đã ký kết giữa Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T với ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1, thấy rằng: Khi giao kết hợp đồng, các bên đều tự nguyện, nội dung và mục đích của hợp đồng phù hợp với nhu cầu của mỗi bên, phù hợp với quy định tại các điều 116, 117, 118 và 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên Hợp đồng tín dụng số 2901-LAV-202400335 ngày 30 tháng 01 năm 2024, Hợp đồng thế chấp số DO516547/HĐTC ngày 29/01/2024 và Hợp đồng thế chấp số DO516548/HĐTC ngày 29/01/2024 đã ký kết giữa Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T với ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 đều hợp pháp.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 2901-LAV-202400335 ngày 30 tháng 01 năm 2024, Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T đã giải ngân cho ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 vay số tiền là 2.000.000.000 đồng để kinh doanh quần áo may sẵn. Sau đó, ông S và bà L1 mới thanh toán cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T II số tiền lãi là: 12.739.726 đồng.
Như vậy, ông S, bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nợ gốc, tiền lãi các bên đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng. Việc Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T khởi kiện buộc ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 phải trả cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm 14/11/2025 số tiền gốc: 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng); lãi trong hạn: 256.438.356 đồng; lãi quá hạn: 58.561.644 đồng đồng và phải chịu tiền lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (15/11/2025) trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 2901-LAV-202400335 ngày 30 tháng 01 năm 2024 mà các bên đã ký cho đến khi ông S, bà L1 thanh toán xong khoản nợ. Nếu ông S, bà L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cư, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xem xét Hợp đồng thế chấp số DO516547/HĐTC ngày 29/01/2024 và Hợp đồng thế chấp số DO516548/HĐTC ngày 29/01/2024 đã ký kết giữa Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T với ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1, ký tại Văn phòng C1, địa chỉ: số A đường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 và Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T thực hiện việc ký kết hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không có sự lừa dối, các Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C1 và đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T. Do đó, các hợp đồng nêu trên đều có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T trong trường hợp ông S, bà L1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản tiền đã vay nêu trên, thì Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ đối với Thửa đất số 19 và Thửa đất số 20 tờ bản đồ số PL18; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T (C) nay là xã T, tỉnh Ninh Bình có sự tham gia của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và bị đơn bà Phạm Thị L1 cùng chính quyền địa phương. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm các đương sự đều ghi nhận kết quả xem xét thẩm định và nhất trí, không có ý kiến, khiếu nại gì.
* Kết quả xem xét, thẩm định, gồm:
- Tài sản thứ nhất: Thửa đất số 19, tờ bản đồ 18, diện tích 461m² ( trong đó đất ở tại nông thôn 245m²; đất trồng cây hàng năm khác 216m²), địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 516547 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024 cho ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1. Tài sản trên đất, gồm: 01 nhà 2 tầng, kết cấu bê tông cốt thép, mái thái diện tích 161m²/1 sàn, 2 sàn là 322m², chiều cao 10,6m, cầu thang trong nhà, khu công trình phụ khép kín; 01 nhà cấp 4 lợp mái tôn, diện tích 21m², cao 3m; bể nước diện tích (6x1,2)m; lán tôn 40m², cao 3m; sân bê tông diện tích 160m².
- Tài sản thứ hai: Thửa đất số 20, tờ bản đồ số PL18, diện tích 179m² (đất ở tại nông thôn, sử dụng lâu dài), địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 516548 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024 cho ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1. Tài sản trên đất, gồm: Một phần nhà 2 tầng, kết cấu bê tông cốt thép, mái thái diện tích 23m², chiều cao 10,6m; sân bê tông diện tích 155m².
[3] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ:
Xét Hợp đồng thế chấp số DO516547/HĐTC ngày 29/01/2024 và Hợp đồng thế chấp số DO516548/HĐTC ngày 29/01/2024 đã ký kết giữa Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T với ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc. Các bên không có phản đối hay có ý kiến gì sau khi ký kết hợp đồng; các điều khoản trong hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đồng thế chấp có hiệu lực kể từ ngày ký kết, đăng ký giao dịch bảo đảm. Các bên thỏa thuận Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T có quyền yêu cầu cơ quan chức năng xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ của bên vay. Nay, ông S, bà L1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ, đúng pháp luật. Yêu cầu này của Nguyên đơn phù hợp với Điều 299 Bộ luật Dân sự, quy định về các trường hợp xử lý tài sản thế chấp được Tòa án chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T về việc “Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A thì A thông qua A Chi nhánh huyện T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Phạm Thị L1, ông Phạm Văn S để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật”. Xét thấy, những yêu cầu này của nguyên đơn không có cơ sở giải quyết, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T đã nộp tạm ứng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và thanh toán xong với Tòa án. Nay, Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam (Cũ) nay là Thi hành án dân sự, tỉnh Ninh Bình.
[7] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn bà Phạm Thị L1 và ông Phạm Văn S vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, và có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số: 85/2025/QH15 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 40, 95, 144, 147, 157, 158, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 117, 119, 292, 293, 295, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 351, 357, 385, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 99, 100 và 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; các điều 166, 167, 168, 170 của Luật Đất đai năm 2013; căn cứ các điều 27, 29, 33, 35, 36, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Điều 306 Luật Thương mại 2005; Điều 56 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/3/2006 về giao dịch dân sự bảo đảm và Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; Điều 5, 6 và Điều 8 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm pháp Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T đối với ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1.
2. Buộc ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 phải trả cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T số tiền tính đến ngày 14/11/2025 số tiền là 2.315.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm mười lăm triệu đồng), trong đó tiền nợ gốc: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng); lãi trong hạn: 256.438.356 đồng; lãi quá hạn: 58.561.644 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15/11/2025) cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 2901-LAV-202400335 ngày 30 tháng 01 năm 2024 mà ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 đã ký với Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T. Khi ông S, bà L1 thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T thì Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T phải trả lại 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 gồm: Số DO 526547 và DO 516548 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024 cho ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1.
Trong trường hợp ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số nợ cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T thì Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T; nếu còn dư thì trả lại cho ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1. Khi kê biên, phát mại tài sản thì chủ tài sản và những người đang quản lý sử dụng tài sản thế chấp phải bàn giao tài sản đảm bảo cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Tài sản thế chấp theo kết quả thẩm định thực tế, gồm có:
Tài sản 1: Thửa đất số 19, tờ bản đồ 18, diện tích 461m² ( trong đó đất ở tại nông thôn 245m²; đất trồng cây hàng năm khác 216m²), địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 516547 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024 cho ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1. Tài sản trên đất, gồm: 01 nhà 2 tầng, kết cấu bê tông cốt thép, mái thái diện tích 161m²/1 sàn, 2 sàn là 322m², chiều cao 10,6m, cầu thang trong nhà, khu công trình phụ khép kín; 01 nhà cấp 4 lợp mái tôn, diện tích 21m², cao 3m; bể nước diện tích (6x1,2)m; lán tôn 40m², cao 3m; sân bê tông diện tích 160m². Theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DO 516547/HĐTC ngày 29/01/2024 được công chứng tại văn phòng C1, số công chứng 389, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD.
Tài sản 2: Thửa đất số 20, tờ bản đồ số PL18, diện tích 179m² (đất ở tại nông thôn, sử dụng lâu dài), địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 516548 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cấp ngày 16/01/2024 cho ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 và tài sản gắn liền với đất theo kết quả thẩm định ngày 28/8/2025. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DO 516548/HĐTC ngày 29/01/2024 được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 390, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn - Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T về việc “Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A thì A thông qua A Chi nhánh huyện T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Phạm Thị L1, ông Phạm Văn S để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật”.
4. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 phải nộp 78.300.000 đồng (Bẩy mươi tám triệu ba trăm nghìn đồng). Trả lại Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện T số tiền tạm ứng án phí Ngân hàng đã nộp là 38.040.000 đồng (Ba mươi tám triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001347 ngày 19 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam (Cũ) nay là nay là Thi hành án dân sự, tỉnh Ninh Bình.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền chi phí tố tụng, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
6. Quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn đơn ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Ninh Bình;
- - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình;
- - THADS tỉnh Ninh Bình;
- - Các đương sự;
- - Cổng thông tin điện tử của Tòa án;
- - Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Vũ Văn Thanh
Bản án số 06/2025/KDTM-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 06/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 30 tháng 01 năm 2024, ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị L1 và Ngân hàng N (A) - Chi nhánh huyện T có ký Hợp đồng tín dụng số: 2901-LAV-202400335 ngày 30 tháng 01 năm 2024.Theo Hợp đồng tín dụng trên A Chi nhánh huyện T có cho ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L1 vay: + Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). + Mục đích vay: Mua bán quần áo may sẵn.
