Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA
KHU VỰC 9 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

Bản án số : 05/2026/HS-ST
Ngày : 13/01/2026
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Bảo.
+ Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Đình Xiểng;
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ.
+ Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Nữ Hương Giang - Thư ký TAND khu vực 9 - Gia Lai.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Gia Lai tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở TAND khu vực 9 - Gia Lai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/TLST-HS, ngày 05 tháng 12 năm 2025 và quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

  • - Võ Văn S (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/01/2002 tại: Gia Lai. Căn cước công dân: [...]. Nơi cư trú: Làng X, xã I, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Văn L, sinh năm 1962 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1969; Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con. Nhân thân: tốt; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Bị hại: Công ty TNHH MTV H.
Địa chỉ: thôn A, xã I, tỉnh Gia Lai.
Đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 10/12/1989. CCCD: 0640890011938. Địa chỉ: B N, phường D, tỉnh Gia Lai. (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Mỹ L1, sinh ngày 24/10/1997. CCCD: [...]; Địa chỉ: Thôn C, xã I, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt)

Người làm chứng:
- Bà Phạm Thị T1, sinh ngày 15/02/1991. Địa chỉ: Thôn C, xã I, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt)
- Anh Phan Bá Q, sinh ngày 09/9/2008. Địa chỉ: Làng M, xã I, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)
Đại diện theo pháp luật của Phan Bá Q: Bà Cầm Thị D, sinh năm 1989. Địa chỉ: Làng M, xã I, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Nguyễn Tiến Đ (sinh năm 1989, trú tại phường D, tỉnh Gia Lai) là đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H (cây xăng H1) tại Thôn A, xã I, tỉnh Gia Lai thuê Võ Văn S làm nhân viên bốc vác phân bón từ tháng 4 năm 2025. Khoảng 17 giờ 00 ngày 10/7/2025, Võ Văn S đang làm việc bốc vác tại cây xăng H1 thì S nhìn thấy một cục tiền được buộc bằng dây thun bên trên có mảnh giấy ghi rõ số tiền của cục tiền là 12.285.000 đồng (tiền bán hàng của cây xăng H1 ngày 10/7/2025) để ở trên bàn làm việc tại cây xăng không có ai trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp số tiền trên. Lúc này, S tiếp cận đến bàn làm việc rồi lợi dụng lúc không ai để ý, dùng tay lấy nhanh cục tiền rồi đút tiền vào túi quần đang mặc, sau đó S vẫn làm việc bình thường. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, sau khi làm việc xong, S lấy xe máy đi đến cửa hàng điện thoại di động Toàn H thuộc Thôn A, xã I, tỉnh Gia Lai gặp bà Ngô Thị Mỹ L1 (sinh năm 1997, trú tại Thôn C, xã I, tỉnh Gia Lai) để lấy điện thoại mà S đã sửa trước đó với số tiền 1.900.000 đồng từ số tiền chiếm đoạt được, sau đó đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ, S tiếp tục đi đến cửa hàng Đ1 thuộc Thôn A, xã I, tỉnh Gia Lai để nhờ bà Phạm Thị T1 (sinh năm 1991, trú tại Thôn C, xã I, tỉnh Gia Lai) chuyển số tiền 9.500.000 đồng vào số tài khoản 0348786915 của S, mở tại Ngân hàng L2 (Ngân hàng Thương mại cổ phần L3). Đến ngày 12/7/2025 S tiếp tục đến cửa hàng Đ1 thuộc Thôn A, xã I, tỉnh Gia Lai để nhờ chị T1 chuyển số tiền 2.200.000 đồng vào số tài khoản 0348786915 của S, mở tại Ngân hàng L2 (Ngân hàng Thương mại cổ phần L3) (trong đó có số tiền 885.000 đồng tiền Sỹ trộm cắp được vào ngày 10/7/2025 và 1.315.000 đồng tiền S có từ trước). Đến 18 giờ ngày 10/7/2025 thì hành vi của Võ Văn S bị phát hiện. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ 01 USB nhãn hiệu KING DOM, dung lượng 64 GB, màu Đen do ông Nguyễn Tiến Đ giao nộp, số tiền 1.900.000 đồng do bà Ngô Thị Mỹ L1 giao nộp, 01 điện thoại di động, nhãn hiệu REDMI 13, màu Đen đã qua sử dụng và số tiền 12.285.000 đồng do Võ Văn S giao nộp.

* Về vật chứng: Một USB nhãn hiệu KING TOM, dung lượng 64 GB, màu đen (đã qua sử dụng, chứa 02 video quay tại cây xăng H1, video số 01 dài 01 phút 14 giây, video số 02 dài 25 giây, bên trong 02 video ghi lại hành vi trộm cắp tài sản của Võ Văn S), được niêm phong chuyển theo hồ sơ vụ án để xử lý theo quy định.

- Một điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 13, màu đen (đã qua sử dụng), không liên quan đến hành vi phạm tội đã trả lại cho chủ sở hữu là Võ Văn S; số tiền 12.285.000 đồng đã trả lại cho bị hại là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H; số tiền 1.900.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội, đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Ngô Thị Mỹ L1.

* Về dân sự:
- Ông Nguyễn Tiến Đ đã nhận lại đủ số tiền bị thiệt hại và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
- Bà Ngô Thị Mỹ L1 đã nhận lại đủ số tiền giao nộp trước đó và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 04 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Gia Lai đã truy tố bị cáo Võ Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX:
Tuyên bố bị cáo Võ Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Võ Văn S mức án từ 08 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về dân sự, vật chứng: Không xem xét.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thống nhất bản luận tội của Đại diện viện kiểm sát. Đại diện bị hại yêu cầu xử nghiêm bị cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên công an xã I, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ của vụ án: Một USB nhãn hiệu KING TOM, dung lượng 64 GB, màu đen (đã qua sử dụng, chứa 02 video quay tại cây xăng H1, video số 01 dài 01 phút 14 giây, video số 02 dài 25 giây, bên trong 02 video ghi lại hành vi trộm cắp tài sản của Võ Văn S); Biên bản kiểm tra, xác định hiện trường; bản ảnh hiện trường; Lời khai người làm chứng.

[3] Về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố:

Khoảng 17 giờ ngày 10/7/2025, tại Cây xăng H1 (thuộc Thôn A, xã I, tỉnh Gia Lai) Võ Văn S đã lợi dụng sơ hở của người được giao quản lý, lén lút chiếm đoạt số tiền 12.285.000 đồng là tiền bán xăng trong ngày 10/7/2025 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H. Đến 18 giờ cùng ngày thì hành vi của Võ Văn S bị phát hiện. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Gia Lai truy tố bị cáo Võ Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[4] Về lời khai tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Đại diện bị hại tại phiên tòa đề nghị xét xử hình phạt đối với bị cáo đúng pháp luật, do bị cáo trước đây đã nhiều lần trộm cắp vặt tài sản và tiền của công ty, sau đó gia đình bị cáo đã khắc phục và do giá trị tài sản và tiền bị cáo trộm cắp giá trị nhỏ nên bị hại đã tha thứ bỏ qua nhưng bị cáo không sửa chữa mà lại có hành vi trộm cắp nữa nên phải có hình phạt tương xứng để răn đe bị cáo.

[5] Từ những cơ sở, chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ kết luận:

Hành vi của bị cáo Võ Văn S lén lút lấy số tiền 12.285.000 đồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H để chiếm đoạt đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản theo quy định của Bộ luật hình sự như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[6] Về tính chất, mức độ hành vi: Tài sản của tổ chức, công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm, chiếm đoạt bất hợp pháp đều bị pháp luật nghiêm cấm dưới mọi hình thức. Bị cáo đầy đủ nhận thức, biết việc chiếm đoạt tài sản nêu trên là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo muốn có tiền nhanh chóng không phải bỏ công sức lao động nên khi phát hiện số tiền của nhân viên bán xăng trong ngày để trên bàn lợi dụng sơ hở của người quản lý đã thực hiện hành vi trộm cắp để tiêu xài bản thân, ngoài ra trước đó bị cáo cũng đã nhiều lần trộm cắp vặt tài sản của bị hại nhưng do giá trị tài sản nhỏ nên bị hại đã tha thứ nhưng bị cáo không sửa đổi mà lại tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo đã gây bất an lo lắng cho người dân, tổ chức trong việc bảo vệ tài sản của mình, làm ảnh hưởng trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc cho bị cáo để cải tạo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời nhằm răn đe đối với người khác, tạo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.

[7] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 12.285.000 đồng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có công việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự:
- Ông Nguyễn Tiến Đ đã nhận lại đủ số tiền bị thiệt hại và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên không đề cập đến.
- Bà Ngô Thị Mỹ L1 đã nhận lại đủ số tiền giao nộp trước đó và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên không đề cập đến.

[9] Các vấn đề khác: Đối với chị Ngô Thị Mỹ L1 vào ngày 10/7/2025 nhận tiền sửa điện thoại của S và chị Phạm Thị T1 vào ngày 10/7/2025, ngày 12/7/2025 nhận chuyển tiền vào số tài khoản của S đều hoàn toàn không biết số tiền trên là tài sản do S phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Văn S 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án

Buộc bị cáo Võ Văn S phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:
- Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai;
- Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
- Viện KSND khu vực 9, tỉnh Gia Lai;
- Công an tỉnh Gia Lai;
- Phòng Thi hành án DS khu vực 9, tỉnh Gia Lai;
- Bị cáo; bị hại, NCQLNVLQ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Văn Bảo

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN
–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2026/HS-ST ngày 13/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - tỉnh Gia Lai về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 05/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 9 - tỉnh Gia Lai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn Sỹ phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger