Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 05/2026/HS-PT

Ngày: 29-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Vàng Xuân Hiệp.
  • Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Phương; Bà Giang Thị Vượng.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 06/2025/TLPT-HS, ngày 07/11/2025 đối với bị cáo Khà Thị V, do có Kháng cáo của bị cáo Khà Thị V.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Khà Thị V, sinh ngày 21/01/1985 tại huyện M, tỉnh Hòa Bình (cũ), nay là tỉnh Phú Thọ; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản Mạ, xã T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: giáo viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khà Văn T (đã chết) và con bà Ngần Thị H, sinh năm 1954; chồng: Trần Văn D, sinh năm 1985 (đã ly hôn năm 2022), con: bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/4/2025 cho đến nay (có mặt).

* Bị hại:

  1. Anh Phạm Xuân T1, sinh năm 1984;
  2. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989;

Đều trú tại: Bản C, xã T, tỉnh Lai Châu; A Phạm Xuân T1 là người đại diện theo uỷ quyền của chị Nguyễn Thị H1, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Quốc M, sinh năm 1983; trú tại: T C, xã M, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
  2. Anh Hà Công T2, sinh năm 1997; trú tại: Xóm H, xã B, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/3/2023, Khà Thị V thuê 01 chiếc xe ô tô con để tự lái, nhãn hiệu Huyndai, loại: Grand i10, biển kiểm soát 25A-052.30 của anh Phạm Xuân T1 và vợ là chị Nguyễn Thị H1. Các bên thỏa thuận giá thuê xe là 500.000 đồng/ngày, không lập hợp đồng thuê bằng văn bản mà chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không thỏa thuận về thời hạn thuê và phương thức, thời điểm thanh toán. Khi cho thuê xe, anh T1 đã giao xe và đưa cho V toàn bộ giấy tờ xe. Mục đích thuê xe của V để sử dụng làm phương tiện đi lại, kinh doanh việc mua bán cây cho các công trình. Đến ngày 27/5/2023, khi đang ở thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình (cũ), do thiếu tiền, V đã nảy sinh ý định bán chiếc xe ô tô của anh T1 lấy tiền chi trả cho việc mua cây công trình tại tỉnh Hòa Bình (cũ), nay là tỉnh Phú Thọ. V điều khiển xe ô tô của anh T1 gặp Trần Quốc M, cư trú tại T C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình, nay là xã M, tỉnh Phú Thọ để bán xe cho anh M. Quá trình bán xe, V nói với anh M là xe của V đang làm lại giấy tờ nên chưa có giấy tờ xe để đưa cho anh M, V viết giấy bán xe, đồng thời để lại cho M cầm thẻ căn cước công dân của V và hẹn khi nào làm xong giấy tờ xe thì sẽ giao cho anh M, anh M đồng ý mua chiếc xe ô tô trên của V với giá 50.000.000 đồng. Sau khi bán chiếc xe ô tô thuê của anh T1 cho M, V đã dùng tiền bán xe chi trả các khoản nợ của mình và không thông báo cho cho chủ xe là anh T1 biết.

Đến tháng 8/2024, V không thanh toán tiền thuê xe cho anh T1 mặc dù anh T1 đã nhiều lần đòi Vương tiền thuê và yêu cầu trả lại xe. Ngày 23/8/2024, V đến gặp anh T1 nói chuyện và đề nghị anh T1 giảm tổng số tiền kể từ khi thuê xe là 270.000.000 đồng xuống còn 200.000.000 đồng, anh T1 đồng ý. V có viết giấy cam kết xác nhận có nợ tiền thuê xe của anh T1 là 200.000.000 đồng, hẹn đến 20/10/2024 sẽ thanh toán toàn bộ số tiền này. Khi đến thời hạn thỏa thuận trả nợ, V vẫn không trả tiền thuê và xe cho anh T1. Tháng 11/2024, V đem trả giấy tờ xe cho anh T1. Đến tháng 01/2025, V không trả được tiền thuê và xe cho anh T1 nên anh T1 đã trình báo vụ việc đến Công an.

Đối với xe ô tô Trần Quốc M mua từ Khà Thị V, ngày 30/5/2023, M đã bán lại cho anh Hà Công T2 (sinh năm: 1997, cư trú tại xóm H, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình, nay là xã B, tỉnh Phú Thọ) với giá 59.000.000 đồng. Quá trình bán xe cho T2, anh M nói chủ cũ đang làm lại giấy tờ xe, khi nào nhận được giấy tờ thì M sẽ đưa cho anh T2. Sau một thời gian sử dụng xe không thấy M giao giấy tờ xe nên T2 tìm cách liên hệ với chủ phương tiện để hỏi về giấy tờ đăng ký xe. T2 liên hệ với Lò Văn T3 (sinh năm 1995; cư trú tại bản Mạ, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu, nay là xã T, tỉnh Lai Châu) là người chủ cũ đã bán xe cho anh Phạm Xuân T1. Từ đó, anh T1 mới biết việc Khà Thị V đã bán chiếc xe ô tô thuê của mình cho người khác.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe ô tô trên từ H để giải quyết theo quy định. Trần Quốc M giao nộp cho cơ quan điều tra 01 căn cước công dân mang tên Khà Thị V.

Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS, ngày 27/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T kết luận: 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, loại: Grand i10, số sàn, sản xuất năm 2016 tại Ấn Độ, biển kiểm soát 25A-052.30 trị giá 160.000.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2025/HS-ST, ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu đã quyết định: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s, b, v khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Khà Thị V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Khà Thị V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án. Ngoài ra bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/10/2025, bị cáo Khà Thị V kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu trình bày quan điểm: Chủ thể kháng cáo, thủ tục kháng cáo, thời hạn kháng cáo đảm bảo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333, 335 Bộ luật tố tụng hình sự. Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 23/9/2025 của TAND khu vực 2 - Lai Châu, đã xét xử bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 175 BLHS và xử phạt bị cáo với mức án 02 năm 06 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới liên quan đến việc bị cáo có ông nội là Khà Văn T4 (Khà Văn D1) được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại và tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại tiếp tục đề nghị xem xét giảm hình phạt cho hưởng án treo cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận đơn kháng cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo theo hướng theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Những nội dung khác của bản án, không bị kháng cáo, kháng nghị, qua nghiên cứu không có vi phạm nghiêm trọng tố tụng hình sự, nên không xem xét giải quyết.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo Khà Thị V, đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo đảm bảo quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ. Căn cứ vào Điều 292; Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm cũng như phúc thẩm tại phiên tòa ngày hôm nay, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 01/3/2023, tại bản C, xã T, tỉnh Lai Châu, Khà Thị V đã thuê 01 chiếc xe ô tô tự lái nhãn hiệu Hyundai, loại: Grand i10, số sàn, biển kiểm soát 25A-052.30 trị giá 160.000.000 đồng của vợ chồng anh Phạm Xuân T1 và chị Nguyễn Thị H1 để làm phương tiện đi lại. Sau khi thuê được xe của anh T1, do thiếu tiền nên ngày 27/5/2023, tại thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình, nay là xã M, tỉnh Phú Thọ, V đã tự ý bán chiếc xe ô tô thuê của anh T1 cho Trần Quốc M lấy số tiền 50.000.000 đồng để trả nợ và không trả lại xe ô tô cũng như tiền thuê xe cho vợ chồng anh T1.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Xem xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, áp dụng điều luật, tuyên bố bị cáo phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đều thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau phạm tội đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; quá trình công tác có thành tích xuất sắc được khen thưởng. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm đơn xin giảm án của bị hại; tài liệu, chứng cứ chứng minh có thân nhân (ông nội) là người có công với cách mạng; ngoài ra tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại tiếp tục đề nghị xem xét giảm mức hình phạt cho bị cáo hưởng án treo về gia đình hiện nay đang phải thuê nhà để ở và nuôi 02 con nhỏ. Do vậy, cần xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Cấp Phúc thẩm nhận thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định. Cần xem xét chấp nhận kháng cáo, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, mà xem xét giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, qua đó thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta đối với người phạm tội lần đầu, biết ăn năn, hối cải.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Khà Thị V, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2025/HS-ST, ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu như sau:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Khà Thị V phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Khà Thị V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, tỉnh Lai Châu, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 Bộ luật hình sự; nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian bị tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

  1. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh Lai Châu;
  • - THADS tỉnh Lai Châu;
  • - Tòa án, VKS, Phòng THADS Khu vực 2 - Lai Châu;
  • - Phân trại tạm giam Tân Uyên;
  • - UBND xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo; bị hại; Người CQLNVLQ;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vàng Xuân Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2026/HS-PT ngày 29/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 05/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger