Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2026/DS-PT

Ngày 15-01-2026

V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phi Long

Các thẩm phán: Ông Phạm Hồng Quân và bà Đỗ Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Hải Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 15/01/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 67/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” do bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 14/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 176/2025/QĐ-PT ngày 31/12/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bái Q, sinh năm 1986
  2. Địa chỉ: Số nhà A, đường N, phường S, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Tăng Văn P và bà Nguyễn Thị Linh M. Địa chỉ: Công ty L2 – Số A lô A Chung cư H, TDP V, phường A, thành phố Hải Phòng (Đều có mặt)

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969.
  4. Địa chỉ: Khu A (Tổ dân phố số A), xã T, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T: Ông Tạ Anh T1. Địa chỉ: Số nhà A đường S, phường L, tỉnh Lào Cai (Có mặt).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Ủy ban nhân dân phường S, tỉnh Lào Cai. Địa chỉ: Số 1 đường X, phường S, tỉnh Lào Cai
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Tô Ngọc L. Chức vụ: Chủ tịch UBND phường S, tỉnh Lào Cai.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phước T2. Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND phường S, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

    • Anh Đặng Xuân V. Địa chỉ: Khu A (Tổ dân phố số A), xã T, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
    • Bà Trần Thị Thu H. Địa chỉ: Số A, đường N, phường S, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
    • Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Thu H: Ông Nguyễn Văn T3. Địa chỉ: Xóm G, K, phường A, thành phố Hải Phòng (Vắng mặt).

      Người đại diện theo ủy quyền của anh Đặng Xuân V: Ông Tạ Anh T1. (Có mặt).

  6. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Bái Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Gia đình ông Đặng Đình Đ được cấp diện tích đất là 120m², loại đất ở-Địa chỉ tổ dân phố số C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 797307, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01920 QSDĐ/QĐ-124 (Q 10) do Ủy ban nhân dân huyện S cấp ngày 12 tháng 5 năm 2004 mang tên hộ ông Đặng Đình Đ. Đến năm 2005, Nhà nước thu hồi diện tích đất nêu trên nhưng chưa được giao đất tái định cư. Ngày 15 tháng 9 năm 2016, vợ chồng ông Đặng Đình Đ và bà Nguyễn Thị T, chuyển nhượng lô đất tái định cư cho ông Nguyễn Bái Q với trị giá là 350.000.000 đồng, ông Đặng Đình Đ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị nhà nước thu hồi cho ông Nguyễn Bái Q. Ông Đặng Đình Đ và bà Nguyễn Thị T cam kết khi nhà nước giao đất tái định cư, thì sẽ làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Bái Q và ký hợp đồng ủy quyền cho ông Nguyễn Bái Q làm các thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tái định cư.

Ngày 26 tháng 10 năm 2016, ông Đặng Đình Đ và bà Nguyễn Thị T lập hợp đồng ủy quyền công chứng số 673, quyển số: 01/2026/TP/CC-SCC/HĐGD do văn phòng C chứng nhận, về việc ông Đặng Đình Đ và bà Nguyễn Thị T ủy quyền cho ông Nguyễn Bái Q được làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, để làm thủ tục nhận tiền bồi thường, nhận đất tái định cư do Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất.

Năm 2017, ông Đặng Đình Đ chết thì ông Nguyễn Bái Q đã làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất tái định cư.

2

Năm 2023, Ủy ban nhân dân thị xã S bàn giao quỹ đất để bố trí đất tái định cư cho ông Đặng Đình Đ và bà Nguyễn Thị T, diện tích đất 140m², lô đất số 40, tờ bản đồ số 97, vị trí thửa đất tại đường N thuộc Lô S, thuộc khu L đường N2 theo quy hoạch chi tiết 1/500 khu đồi T4 (Theo xem xét thẩm định diện tích đất là 99m², thửa số 31, tờ bản đồ số 44-Địa chỉ đường N, tổ dân phố H, phường S, tỉnh Lào Cai).

Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết công nhận giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất tái định cư, ngày 15 tháng 9 năm 2016, giữa ông Đặng Đình Đ với ông Nguyễn Bái Q là giao dịch dân sự có điều kiện, có hiệu lực pháp luật và buộc bà Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân V phải thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất tái định cư cho ông Nguyễn Bái Q; Yêu cầu bà Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân V thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại; Buộc bà Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân V trả lại diện tích đất tái định cư diện tích đất là 99m², thửa số 31, tờ bản đồ số 44-Địa chỉ đường N, tổ dân phố H, phường S, tỉnh Lào Cai).

Theo bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Ông Đặng Đình Đ và bà Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn năm 2002 và có con chung là anh Đặng Xuân V, sinh năm 2003. Năm 2006, Ủy ban nhân dân huyện S thu hồi 120m² đất thổ cư và 187,1m² đất nông nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 797307 do Ủy ban nhân dân huyện S, cấp ngày 12 tháng 5 năm 2004 mang tên hộ ông Đặng Đình Đ. Khi nhà nước thu hồi đất nhưng không phê duyệt giao đất tái định cư cho gia đình ông Đặng Đình Đ. Nên năm 2019, gia đình bà Nguyễn Thị T đã khởi kiện vụ án đề nghị nhà nước giao đất tái định cư cho gia đình theo quy định pháp luật. Tại Bản án số: 13/2019/HC-ST ngày 22 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, buộc Ủy ban nhân dân huyện S giao 01 suất đất tái định cư cho bà Nguyễn Thị T và người thừa kế của ông Đặng Đình Đ là anh Đặng Xuân V. Đến năm 2022, Ủy ban nhân dân thị xã S phê duyệt bổ sung giao 01 thửa đất tái định cư cho gia đình bà Nguyễn Thị T.

Bà Nguyễn Thị T không biết việc ông Đặng Đình Đ chuyển nhượng đất tái định cư cho ai. Đến năm 2017 ông Đặng Đình Đ chết nhưng cũng không nói với bà, về việc ông Đặng Đình Đ vay tiền của ông Nguyễn Bái Q. Sau này, ông Nguyễn Bái Q nói với bà, về việc ông Đặng Đình Đ chuyển nhượng đất tái định của gia đình cho ông Nguyễn Bái Q, tuy nhiên khi đó gia đình cũng chưa được giao đất tái định cư và bà Nguyễn Thị T có nói với ông Nguyễn Bái Q, về việc khởi kiện yêu cầu nhà nước giao đất tái định cư được thì nhóm của ông Nguyễn Bái Q hưởng tỷ lệ 50%, còn 50% thuộc về gia đình bà Nguyễn Thị T.

Nay bà đề nghị Tòa án tuyên giấy giao nhận tiền và hợp đồng chuyển chuyển nhượng quyền sử dụng đất tái định cư, ngày 15 tháng 9 năm 2016, giữa ông Đặng

3

Đình Đ với ông Nguyễn Bái Q vô hiệu. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bái Q. Bà Nguyễn Thị T rút yêu cầu về việc giải quyết hậu quả pháp lý khi tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

Theo bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu H trình bày:

Năm 2014, ông Đặng Đình Đ có nói với bố mẹ chồng của bà là muốn chuyển nhượng đất tái định cư, nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ chưa bị nhà nước thu hồi mà ông Đặng Đình Đ giao cho ông Đoàn Văn N giữ, để vay số tiền là 250.000.000 đồng. Sau khi bàn bạc thì vợ chồng ông Nguyễn Bái Q và bà Trần Thị Thu H nhận chuyển nhượng diện tích đất tái định cư hình thành trong tương lai của vợ chồng ông Đặng Đình Đ và bà Nguyễn Thị T với giá 350.000.000 đồng theo giấy ngày 15 tháng 9 năm 2016, giữa ông Nguyễn Bái Q và ông Đặng Đình Đ, trong đó ông Nguyễn Bái Q đưa số tiền 250.000.000 đồng cho ông Đoàn Văn N và đưa số tiền 100.000.000 đồng cho ông Đặng Đình Đ.

Ngày 26 tháng 10 năm 2016, ông Nguyễn Bái Q với ông Đặng Đình Đ và bà Nguyễn Thị T, ký kết hợp đồng ủy quyền số: 673, quyển số: 01/2016/TP-SCC/HĐGD do văn phòng C chứng nhận, nội dung bà Nguyễn Thị T ủy quyền ông Nguyễn Bái Q làm việc với các cơ quan có thẩm quyền về thủ tục bồi thường, nhận đất tái định cư do Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất.

Năm 2023, Ủy ban nhân dân thị xã S bàn giao quỹ đất để bố trí đất tái định cư cho ông Đặng Đình Đ và bà Nguyễn Thị T, diện tích đất 140m², lô đất số 40, tờ bản đồ số 97, vị trí thửa đất tại đường N thuộc Lô S, thuộc khu L đường N2 theo quy hoạch chi tiết 1/500 khu đồi T4 nhưng bà Nguyễn Thị T không thực hiện giao đất tái định cho gia đình bà.

Đề nghị Tòa án buộc bà Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân V trả lại diện tích đất tái định cư diện tích đất là 140m², tờ bản đồ số 97, lô số 40-Địa chỉ Lô S, khu L đường N, theo quy hoạch chi tiết 1/500 khu đồi T4.

Theo bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Xuân V và ông Tạ Anh T1 trình bày: Nhất trí như theo nội dung trình bày và quan điểm đề nghị của bị đơn bà Nguyễn Thị T.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường S không cung cấp lời khai và tài liệu chứng cứ cho Tòa án.

Tại Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 14/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai đã xét xử và quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, khoản 1 Điều 147, Điều 188, khoản 1 Điều 157, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 101, Điều 102, Điều 103, Điều 108, Điều 122, Điều 129, Điều 131, Điều 218, Điều 257, Điều 288, Điều 407, Điều 468, Điều 502 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 100; Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Nghị quyết số:

4

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  • - Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Bái Q, về việc công nhận giấy giao nhận tiền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tái định cư, ngày 15 tháng 9 năm 2016, giữa ông Đặng Đình Đ với ông Nguyễn Bái Q là giao dịch dân sự có điều kiện, có hiệu lực pháp luật.
  • - Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Bái Q, về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân V thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
  • - Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Bái Q, về việc buộc bà Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân V phải trả diện tích đất 99m²-Địa chỉ tổ E, phường H, thị xã S, tỉnh Lào Cai nay là tổ dân phố H, phường S, tỉnh Lào Cai. Diện tích đất có tứ cận phía Đông Nam giáp đường N, phía Đông Bắc giáp nhà ông Nguyễn Văn T5, phía Tây Nam giáp nhà của bà Phạm Thúy L1, phía T giáp đường vào khu dân cư và có tọa độ điểm như sau: 4. Y 407328.47, X 2471536.69; 7. Y 407324.73, Χ 2471534.19; Y 407312.78, X 2471552.66; 5. Y 407316.52, X 2471555.16. (Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12 tháng 3 năm 2025 và sơ đồ đo đạc thửa đất).
  • - Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Bái Q, về việc buộc bà Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân V phải thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất tái định cư tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho ông Nguyễn Bái Q.
  • - Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, về việc tuyên bố giấy giao nhận tiền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tái định cư, ngày 15 tháng 9 năm 2016, giữa ông Đặng Đình Đ với ông Nguyễn Bái Q vô hiệu. Buộc bà Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân V hoàn trả cho ông Nguyễn Bái Q số tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng), phần của mỗi người phải hoàn trả số tiền là 175.000.000 đồng (Một trăm bẩy mươi triệu đồng).

Buộc ông Nguyễn Bái Q phải trả 01 (Một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 797307, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 01920 QSDĐ/QĐ-124 (Q10) do Ủy ban nhân dân huyện S cấp ngày 12 tháng 5 năm 2004 cho hộ ông Đặng Đình Đ cho bà Nguyễn Thị T.

Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, về việc giải quyết hậu quả pháp lý khi tuyên bố giấy giao nhận tiền, chuyển nhượng quyền sử dụng đất tái định cư, ngày 15 tháng 9 năm 2016, giữa ông Đặng Đình Đ với ông Nguyễn Bái Q vô hiệu.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án, nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 29/10/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Bái Q kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai xét xử lại.

5

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm và yêu cầu của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Bái Q, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 14/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai.

Tuyên nghĩa vụ chịu án phí đối với người kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra xem xét đầy đủ, toàn diện tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ và yêu cầu của các bên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Bái Q có đầy đủ nội dung theo quy định pháp luật, nộp trong thời hạn luật định là hợp lệ, là căn cứ để xem xét vụ án theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Bái Q

[2.1] Xét giấy giao nhận tiền ngày 15 tháng 9 năm 2016 giữa ông Đặng Đình Đ với ông Nguyễn Bái Q

Về hình thức, chủ thể: Giấy giao nhận tiền ngày 15/9/2016 có thể hiện thông tin người nhận tiền, người giao tiền, số tiền, điều kiện, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên, có chữ ký của người giao và người nhận tiền, tuy nhiên hiện ông Đặng Đình Đ đã chết, chưa có đủ căn cứ để xác định thời điểm viết giấy giao nhận tiền ngày 15/9/2016, ông Đặng Đình Đ có tự nguyện hay không.

Về nội dung: Giấy giao nhận tiền ngày 15/9/2016 thể hiện việc ông Nguyễn Bái Q giao cho ông Đặng Đình Đ số tiền 350.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng phần đất tái định cư được nhà nước giao cho hộ ông Đ sau khi nhà nước thu hồi đất. Ông Đ đã nhận đủ tiền và có trách nhiệm sang tên cho ông Q sau khi nhận được đất tái định cư. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù giao dịch dân sự giữa ông Đ và ông Q là giao dịch dân sự có điều kiện, tuy nhiên, tại thời điểm giao dịch dân sự được xác lập, diện tích đất nhà nước thu hồi là đất được cấp cho hộ gia đình ông Đặng Đình Đ, thửa đất tái định cư được giao theo quyết định số 4675/QĐ-

6

UBND ngày 22/12/2022 của UBND thị xã S cũng là đất được giao cho hộ gia đình. Vì vậy, việc ông Đ tự mình ký giấy đồng ý chuyển nhượng đất tái định cư cho ông Q trong khi chưa được sự đồng ý của các thành viên trong hộ gia đình là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 212 Bộ luật dân sự 2015 về sở hữu chung của các thành viên gia đình. Giao dịch dân sự giữa ông Đ và ông Q vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự về năng lực trách nhiệm dân sự của chủ thể. Mặt khác, theo quy định tại Điều 168 Luật đất đai 2013, Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Với quy định trên, việc ông Đ giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Q trong khi chưa có được giao đất tái định cư, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định giao dịch dân sự này vô hiệu, từ đó chấp nhận yêu cầu của bị đơn bà Nguyễn Thị T là có căn cứ, đúng pháp luật và tuyên buộc bà T và anh V hoàn trả cho ông Nguyễn Bái Q số tiền 350.000.000 đồng là phù hợp.

[2.3] Đối với ý kiến của ông Q cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm khi thụ lý yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử nhận định: Mặc dù bà T có đơn phản tố, tuy nhiên xét thấy yêu cầu của bà T không phải yêu cầu phản tố theo khoản 2 Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, mà chỉ được xác định là ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu bị đơn nộp án phí cũng như không thụ lý phản tố đối với yêu cầu này là đúng quy định.

[2.4] Đối với ý kiến của nguyên đơn về việc bà T phải biết về giao dịch giữa nguyên đơn và bị đơn, đồng thời bà T cũng đồng ý với giao dịch này, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn cho rằng, bà T bảo bố mẹ nguyên đơn tác động để nguyên đơn mua lại suất đất tái định cư của hộ ông Đ, bà T, sau khi ký giấy vay tiền ngày 15/9/2016, ông Đ còn gọi điện cho bà T để xác nhận, tuy nhiên nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc này. Tại hợp đồng ủy quyền ngày 26/10/2016 giữa bà T, ông Đ và ông Q, không có điều, khoản nào thể hiện việc bà T đồng ý chuyển nhượng thửa đất tái định cư cho ông Q, hay biết về giao dịch giữa ông Q và ông Đ, cũng như không có điều, khoản nào thỏa thuận cho ông Quyền sở H1 50% giá trị suất tái định cư, hợp đồng này chỉ ủy quyền cho ông Q làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để nhận tiền bồi thường, nhận đất tái định cư cho ông Đ, bà T. Do đó ý chí của bà T tại hợp đồng ủy quyền ngày 26/10/2016 và tại hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 20/11/2016 ký với ông Tạ Anh T1 và ông Nguyễn Ánh D (hợp đồng này quy định chi phí thù lao dịch vụ là 50% giá trị lô đất tái định cư) không có mâu thuẫn. Đoạn ghi âm giữa bà T và ông Q ngày 28/3/2022 mặc dù có nội dung về việc chia cho ông Q 50% giá trị đất tái

7

định cư, tuy nhiên cuộc nói chuyện diễn ra trong hoàn cảnh nào, ý chí cụ thể của bà T như thế nào cũng không xác định được. Do đó dựa vào đoạn ghi âm để xác định ý chí của bà T muốn cho ông Q 50% giá trị suất tái định cư là chưa đủ căn cứ. Hơn nữa, hộ gia đình ông Đ, bà T còn một thành viên là anh Đặng Xuân V. Bản án hành chính số 13/2019/HC-ST ngày 22/5/2019 của TAND tỉnh Lào Cai cũng tuyên Buộc UBND huyện S, tỉnh Lào Cai cấp một suất đất tái định cư cho bà Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân V (Là những người thừa kế của ông Đặng Đình Đ). Anh V không biết và không đồng ý với giao dịch giữa ông Đ và ông Q, vì vậy, việc nguyên đơn cho rằng giao dịch giữa ông và ông Đ là hợp pháp là không có cơ sở.

Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Bái Q là không có căn cứ chấp nhận.

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng, án phí lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Bái Q, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 14/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  3. Ông Nguyễn Bái Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001 625 ngày 28/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - TAND KV 7 – Lào Cai;
  • - Phòng THADS KV 7 – Lào Cai;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Phi Long

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 05/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger