Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2026/HS-ST

Ngày: 07-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang

  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Văn Kiểm

  • 2. Ông Nguyễn Ngọc Hà

  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Phú Thọ.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thủy N, sinh ngày 01/9/1991 tại phường T, tỉnh Phú Thọ;

Nơi cư trú: Tổ H, phố B, phường T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn B (Đã chết) và bà Vũ Thị T; Vợ: Nguyễn Thị Hồng V, con: 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2008/HSST ngày 22/04/2008, Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử Nguyên 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Khi phạm tội N là người chưa thành niên.

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2010/HSST ngày 02/11/2010 của Toà án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xử N 15 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, buộc N phải bồi thường 1.150.000 đồng và nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/9/2011, chấp hành xong án phí và bồi thường ngày 04/5/2013.

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 166/2018/HSST ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử N 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, buộc N nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Nguyên chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/10/2019, N đã nộp đủ tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 29/11/2018.

Bị cáo bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 06/10/2025, chuyển tạm giam từ ngày 08/10/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1-Công an tỉnh P. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 05/10/2025 tại khu H, phường T, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an phường T tiến hành kiểm tra một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn. Tại chỗ người này tự khai nhận tên là Trần Thủy N, sinh năm 1991, trú tại tổ H, phố B, phường T, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác đã tiến hành đưa N về trụ sở Công an phường T làm việc. Tại trụ sở Công an phường T, Nguyên khai nhận vào chiều ngày 03/10/2025, N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại bờ sông thuộc tổ A, phố Đ, phường T, tỉnh Phú Thọ. Công an phường T tiến hành kiểm tra ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với Trần Thủy N. Kết quả kiểm tra N dương tính với chất ma tuý “MOP” và “MET”. Công an phường T lập biên bản sự việc và thu mẫu nước tiểu đối với N.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 8781 ngày 05/10/2025 giám định mẫu nước tiểu thu giữ được của Trần Thủy N. Tại bản Kết luận giám định số: 2422/KL- KTHS ngày 06/10/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận:

“Trong chất lỏng màu vàng của mẫu ghi mẫu nước tiểu của Trần Thủy N, sinh năm 1991, trú tại tổ H, phố B, phường T, tỉnh Phú Thọ ngày 05/10/2025 gửi đến giám định tìm thấy chất ma tuý, loại: Morphine, Methamphetamine."

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trần Thủy Nguyên K nhận như sau: Do bản thân nghiện ma tuý và có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng 18 giờ ngày 03/10/2025, N đi đến khu vực bờ sông L thuộc tổ A, phố Đ, phường T, tỉnh Phú Thọ để tìm mua ma tuý. Tại đây, N có gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là M (N không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Nguyên có hỏi và mua được của M 01 gói ma tuý Heroine với giá 500.000 đồng có đặc điểm là gói giấy có mặt ngoài và mặt trong đều là màu trắng bạc, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng hồng. Đó là ma tuý Heroine được trộn lẫn ma tuý hồng phiến. Sau khi mua được ma tuý, N đi mua xi lanh và nước cất rồi đi đến khu vực bờ sông L thuộc tổ A, phố Đ, phường T, tỉnh Phú Thọ, lấy gói ma tuý vừa mua được pha với nước cất đổ vào xi lanh và sử dụng hết cho bản thân. Sau đó, N ném xi lanh cùng giấy bạc và vỏ ống nước cất xuống sông L và đi về nhà.

Quá trình điều tra xác minh tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh P xác định: Trần Thủy N bắt đầu điều trị nghiện ma tuý bằng hình thức uống thuốc Methadone hàng ngày từ ngày 19/01/2022 đến ngày 07/10/2025. Ngày cuối cùng N uống là ngày 06/10/2025 tại Trạm y tế B1, phường T, tỉnh Phú Thọ.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 25/CT – VKS-KV1, ngày 16/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Phú Thọ truy tố bị cáo Trần Thủy N về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Phú Thọ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thủy N phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

  • - Về hình phạt:

    Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung 2025; khoản 9 Điều 2 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao .

    Xử phạt bị cáo Trần Thủy N từ 02 năm 03 tháng tù (Hai năm, ba tháng tù) đến 02 năm 06 tháng tù (hai năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 06/10/2025.

  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Thủy N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, không bào chữa, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thủy N đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với Kết luận giám định, biên làm xác minh, làm việc và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 03/10/2025 tại bờ sông thuộc tổ A, phố Đ, phường T, tỉnh Phú Thọ, Trần Thủy N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Trần Thủy N là đối tượng nghiện ma túy và đang trong thời gian điều trị nghiện các chất bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma tuý. Do vậy, Trần Thủy N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Hành vi của bị cáo Trần Thủy N đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.

Điều 256a. Sử dụng trái phép chất ma túy:

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a, Đang trong thời hạn cai nghiện ma tuý hoặc điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma tuý”.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Trần Thủy N của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Phú Thọ là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng với lỗi cố ý, bị cáo nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma tuý khi đang trong thời hạn điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.

[4 Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi phạm tội đã chấp hành xong và đã được xóa án tích. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tuy bị cáo đã bị xử phạt về hành vi phạm tội nhưng đến nay đã được xóa án tích, thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo hướng dẫn tại khoản 9 Điều 2 của Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù giam như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Đối với các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với người đàn ông tên M bán ma túy cho N vào ngày 03/10/2025, do N không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của N không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 9 Điều 2 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Thủy N phạm tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thủy N 02 năm 03 tháng tù (Hai năm, ba tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 06/10/2025.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Thủy N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKS ND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKS ND KV 1- Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Phú Thọ; Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng THA DS khu vực 1-Phú Thọ;
  • - Lưu hồ sơ; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2026/HS-ST ngày 07/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ về hình sự (sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 04/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo TTN phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger