Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2026/HS-PT

Ngày 07 tháng 01 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam

Các Thẩm phán: Ông Trịnh Xuân Miễn

Bà Châu Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa:

Ông Ngô Thế Bắc là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Ông Quan Tuấn Nghĩa – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 148/2025/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Văn N; Nguyễn Minh H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2025/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau.

- Bị cáo bị kháng cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh ngày 18/12/1994 tại G, Bạc Liêu. Nơi cư trú: Khóm C, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Phường L, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1971 (là bị can trong vụ án), con bà Trần Thúy P, sinh năm 1970; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/5/2025, Phòng C4 Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 47/QĐ-XPHC về hành vi “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 21/10/2024, hình thức phạt tiền 6.500.000 đồng, chưa chấp hành nghĩa vụ nộp phạt. Bị cáo tại ngoại, (có đơn xin xét xử mặt).
  2. Họ và tên: Nguyễn Minh H, sinh ngày 01/01/1971 tại V, Bạc Liêu. Nơi cư trú: Khóm C, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Phường L, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1945 (đã chết), con bà Phạm Thị K, sinh năm 1948 (đã chết); có vợ tên Trần Thúy P, sinh năm 1970 và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn H1 : Bà Phan Ngọc T1 – Luật sư của Văn phòng L và Cộng sự - Chi nhánh phường G, tỉnh Cà Mau (Có đơn xin xét xử vắng mặt, có gởi bản luận cứ bào chữa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đang thụ lý, giải quyết vụ án về tội “Cố ý gây thương tích và Cố ý làm hư hỏng tài sản” xảy ra ngày 21/10/2024 tại ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã L, tỉnh Cà Mau) theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 71/QĐ-CSĐT, ngày 25/10/2024 liên quan đến Nguyễn Văn N. Do đó, khoảng 16 giờ ngày 26/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn N, tại Khóm C, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Phường L, tỉnh Cà Mau), phát hiện thu giữ tại vị trí ngăn dưới cùng tủ giày trong phòng ngủ của N bao gồm: 10 (mười) viên đạn bằng kim loại màu đồng, chiều dài 5,7cm, đường kính vỏ đạn 9mm và 10 (mười) viên đạn bằng kim loại màu đồng, chiều dài 4,2cm, đường kính vỏ đạn 8,5mm và một số đồ vật, tài sản khác có liên quan đã được niêm phong theo quy định và gởi đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B để điều tra, xác minh theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra xác định: Đối với 20 viên đạn thu giữ nêu trên, Nguyễn Minh H (cha ruột của N) trình bày là do em ruột tên Nguyễn Văn C (Ú), nhà ở xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng xin của người tên “Đ” làm ở Huyện đội thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Khoảng tháng 11 năm 2018, Út C1 mang 20 viên đạn xuống nhà đưa cho H nhờ chỉ chỗ làm hột quẹt bằng vỏ đạn. Sau đó, H đã cất giấu 20 viên đạn trong học tủ thờ tại nhà thuộc Khóm C, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường L, tỉnh Cà Mau). Đến năm 2021, khi gia đình xây dựng nhà mới, Nguyễn Văn N (là con ruột của H) đã lấy 20 viên đạn trên cất giấu tại tủ giày trong phòng ngủ của N, đến ngày 26/10/2024 khi lực lượng Công an khám xét chỗ ở phát hiện thu giữ cùng với tang vật

- Tại Bản kết luận giám định số: 6980/KL-KTHS, ngày 22/11/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • + 10 (mười) viên đạn ký hiệu A1 là vũ khí quân dụng, thuộc loại đạn cỡ (5,56x45)mm, sử dụng cho các loại súng như Steyr AUG, CZ-805 BREN, AK-101, M16, AR15... Các viên đạn này còn sử dụng để bắn được.
  • + 10 (mười) viên đạn ký hiệu A2 là vũ khí quân dụng, thuộc loại đạn cỡ (7,62x33)mm, sử dụng cho các loại súng như Carbine M1, M2, M3, AMT AutoMag... Các viên đạn này còn sử dụng để bắn được.

Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau quyết định:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất vũ khí quân dụng”.

sự.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 12/9/2025, bị cáo Nguyễn Văn N kháng cáo với nội dung: yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ bản án sơ thẩm, làm rõ sự thật khách quan do bị cáo không cố ý, không có ý thức tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng như bản án sơ thẩm đã tuyên và miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo Nguyễn Minh H kháng cáo với nội dung yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét làm rõ sự thật khách quan và xác định bị cáo không có hành vi phạm tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên toà:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh N1, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh H cho bị cáo H được hưởng án treo; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau.

Nội dung Bản luận cứ của Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh H, bị cáo Nguyễn Văn N như sau:

Đối với bị cáo Nguyễn Minh H, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo; nguồn gốc 20 viên đạn do em ruột là Nguyễn Văn C tự mang đến nhà và bỏ lại, bị cáo H không trực tiếp nhìn thấy 20 viên đạn, chỉ nghe C nói muốn tìm chỗ làm hột quẹt, bị cáo H không biết đây là các viên đạn thật thuộc loại vũ khí quân dụng, lời trình bày này phù hợp với đoạn ghi âm hội thoại giữa bị cáo Nguyễn Văn N và ông Nguyễn Hoàng C2.

Bị cáo H không cố ý thực hiện hành vi do nhận thức pháp luật còn hạn chế; Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo là lao động nghèo hiện sinh sống với nghề mua bán dạo, sức khoẻ kém, học vấn thấp, không có điều kiện tìm hiểu pháp luật liên quan đến hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng, bị cáo không có động cơ, mục đích tàng trữ vũ khí quân dụng, hành vi liên quan đến vũ khí chưa gây hậu quả về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù giam là nghiêm khắc, hành vi bị cáo chỉ nên xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 11 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 phạt tiền đối với bị cáo cũng đảm bảo tính răng đe đối với hành vi của bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn N, quá trình bị cáo N thực hiện hành vi tàng trữ 20 viên đạn là vũ khí quân dụng, bản thân nhận thức chỉ là vỏ đạn để làm hột quẹt để trưng bày, từ khi tàng trữ đến khi bị phát hiện bị cáo không sử dụng vào bất cứ mục đích nào gây nguy hiểm cho người khác, bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ do hạn chế nhận thức, hiểu biết về vũ khí quân dụng. Mặc dù bị cáo có tàng trữ 20 viên đạn là vũ khí quân dụng nhưng bị cáo không nhận thức được đây là vũ khí quân dụng, không có mục đích sử dụng vào mục đích gây nguy hiểm cho người khác. Hành vi của bị cáo N không còn nguy hiểm cho xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 29 Bộ luật hình sự miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: Khoảng tháng 11 năm 2018, Út C1 mang 20 viên đạn xuống nhà đưa cho bị cáo Nguyễn Minh H nhờ đi làm hột quẹt bằng vỏ đạn. Sau đó, bị cáo H đã cất giấu 20 viên đạn trong học tủ thờ tại nhà thuộc khóm C, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường L, tỉnh Cà Mau). Đến năm 2021, khi gia đình xây dựng nhà mới, bị cáo Nguyễn Văn N (là con ruột của H) hỏi ý kiến bị cáo H và lấy 20 viên đạn trên cất giấu tại tủ giày trong phòng ngủ của bị cáo N, đến ngày 26/10/2024 khi lực lượng Công an khám xét chỗ ở phát hiện thu giữ cùng với tang vật

Từ những chứng cứ trên Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8– Cà Mau đã tuyên xử các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn H1 phạm tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Không đồng ý với án sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn N kháng cáo yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự; bị cáo Nguyễn Văn H1 kháng cáo cho rằng mức độ vi phạm chỉ đến mức xử phạt hành chính, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn H1:

[3.1] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra, tại phiên toà sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận năm 2019 bị cáo phát hiện 02 băng đạn trong tủ thờ nên đem về phòng ngủ trưng bày, vài ngày sau bị cáo có hỏi cha là bị cáo H1 về nguồn gốc các viên đạn thì bị cáo H1 cho rằng của chú út tên Nguyễn Văn C3 đem xuống để làm hột quẹt, đến năm 2021 khi sửa nhà bị cáo mang về phòng ngủ của mình cất trong tủ giầy đến ngày 26/10/2024 thì bị phát hiện. Hội đồng xét xử xét thấy, tại biên bản khám xét ngày 26/10/2024 thu giữ tại phòng ngủ của bị cáo N 20 viên đạn, qua kết luận giám định là dạng quân dụng, còn sử dụng được. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người đã trưởng thành, trình độ học vấn 12/12 biết rõ đạn là vũ khí quân dụng, cá nhân không có thẩm quyền không được tàng trữ nhưng bị cáo tàng trữ trong thời gian dài, không rõ mục đích sử dụng đạn vào việc gì và không đi giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền, trong vụ án này bị cáo tàng trữ vũ khí quân dụng nhưng chưa có sử dụng, trường hợp bị cáo sử dụng sẽ bị xử lý hành vi phạm tội khác, việc này tiềm ẩn mối nguy hiểm lâu dài xuất phát từ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng của bị cáo. Bản án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm do bị cáo gây ra và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, tuyên bố bị cáo phạm tội “tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1, Điều 304 của Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo 01 năm tù là có căn cứ pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Từ những nhận định trên, xét thấy luận cứ bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo N đề nghị Hội đồng xét xử miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là không có căn cứ pháp luật. Do đó, kháng cáo yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.

[3.2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh H cho rằng hành vi của bị cáo chỉ đến mức xử lý vi phạm hành chính không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn H1 khai nhận năm 2018 em ruột tên Nguyễn Văn C mang 20 viên đạn xuống nhà bị cáo để bị cáo đem đi làm hột quẹt, bị cáo chính là người lấy cất vào tủ thờ, đến năm 2019 bị cáo Nguyễn Văn N phát hiện và lấy 20 viên đạn về phòng cất giữ và có hỏi bị cáo H1 về nguồn gốc 20 viên đạn, bị cáo H1 thừa nhận biết việc bị cáo N đem 20 viên đạn về phòng cất giữ. Lời khai của bị cáo H1 phù hợp với lời khai của bị cáo N, lúc đầu bị cáo H1 không thấy trước hậu quả của hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng do mình gây ra, tuy nhiên bị cáo H1 là người đã trưởng thành, nhận thức bình thường pháp luật buộc bị cáo phải nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, trong vụ án này bị cáo đồng ý cho bị cáo N 20 viên đạn là để mặc cho hậu quả xảy ra. Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh H là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về vũ khí quân dụng mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.

Do đó, bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, xử phạt bị cáo H 01 năm tù là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo H là cha ruột của bị cáo N chung sống cùng nhà, có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, sức khoẻ yếu, bản thân có học vấn thấp ít hiểu biết pháp luật về vũ khí quân dụng, nên không nhận thức đầy đủ về tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội mình đã thực hiện, trong vụ án này quá trình điều tra bị cáo H thừa nhận hành vi tàng trữ nhưng không nhận thức được việc tàng trữ vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật hình sự.

Xét luận cứ bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo H cho rằng bị cáo có nhân thân tốt, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, sức khoẻ yếu và nhận thức pháp luật về vũ khí quân dụng thấp là có căn cứ, nên chấp nhận một phần luận cứ bào chữa của luật sư cho bị cáo H.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo kháng cáo yêu cầu xem xét không truy tố trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Minh H là không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, xét nhân thân, vai trò và tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo H thấy rằng tại thời điểm phát hiện 20 viên đạn là tại phòng ngủ của bị cáo N, do bị cáo N đã lấy trong tủ của ông H thời gian dài từ năm 2021 đến nay, nên tính chất nguy hiểm của hành vi bị cáo H là thấp hơn so với bị cáo N, trong vụ án này bị cáo nhận thức pháp luật về vũ khí quân dụng còn hạn chế áp dụng khoản 2, điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo H và thể hiện tính khoang hồng của pháp luật, nên xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo được tính răng đe của pháp luật, nên sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo H.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh H, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo H, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 01 năm tù, nhưng được Hưởng án treo, thời thử thách 02 năm kể từ ngày tuyên án là phù hợp, nên chấp nhận.

[4] Theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355 và điểm e, khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh H; Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất vũ khí quân dụng”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 17 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 01(một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Minh H cho Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Minh H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại các Điều 68, 92 của Luật thi hành án Hình sự.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiếp tục giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh C xử lý theo thẩm quyền đối với các vật chứng gồm: 05 (năm) viên đạn cỡ (5,56x45)mm và 05 (năm) viên đạn cỡ (7,62x33)mm đã được niêm phong thành 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài gói niêm phong có chữ ký, viết tên xác nhận của Phan Xuân T2, Nguyễn Hoàng V và dấu tròn đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Minh H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Án phí phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Minh H không phải chịu.

  1. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Công an tỉnh Cà Mau;
  • - TAND Khu vực 8-Cà Mau;
  • - VKS nhân dân Khu vực 8-Cà Mau;
  • - Phòng THADS Khu vực 8-Cà Mau;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HS; án văn;
  • - Lưu VT( TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn A Đam

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2026/HS-PT ngày 07/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về hình sự phúc thẩm (tàng trữ trái phép chất vũ khí quân dụng)

  • Số bản án: 04/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tàng trữ trái phép chất vũ khí quân dụng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Nghiệp, Nguyễn Minh Hưởng tàng trữ 20 viên đạn là vũ khí quân dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger