|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – LÀO CAI Bản án số: 04/2026/HNGĐ-ST. Ngày 16-01-2026. “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lường Thị Hoàn; 2. Ông Ngô Thanh Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Nguyên Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị L, sinh năm 1991; địa chỉ tổ dân phố B, phường C, tỉnh Lào Cai; "Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt".
2. Bị đơn: Anh Lý Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ tổ dân phố B, phường C, tỉnh Lào Cai. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại trại giam H - Cục C - Bộ C1; địa chỉ xã H, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai chị Lò Thị L trình bày:
+ Quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị L và anh Lý Văn T tự nguyện kết hôn ngày 13 tháng 3 năm 2009 tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tổ dân phố B, phường C, tỉnh Lào Cai. Trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng cùng nhau làm ăn kinh tế nhưng sau đó do anh T tính tình nóng nảy hay chửi mắng và dọa nạt chị L nên vợ chồng sống không hạnh phúc; đến năm 2021 anh T vi phạm pháp luật nên bị Tòa án xét xử 10 năm tù về tội giết người, hiện anh T đang chấp hành án phạt tù tại trại giam H. Trong thời gian anh T chấp hành án tại trại giam nhưng chị L vẫn bị anh T đe dọa, gây áp lực về tinh thần; nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên không thể tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân, do đó chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Lý Văn T.
+ Con chung: Chị Lò Thị L và anh Lý Văn T có 02 con chung là Lý Anh Đ, sinh ngày 28/8/2009 và Lý Giang N, sinh 06/8/2012. Sau khi ly hôn chị L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Tài sản chung và nợ chung: Chị Lò Thị L không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt anh Lý Văn T trình bày:
+ Quan hệ hôn nhân: Anh Lý Văn T và chị Lò Thị L tự nguyện yêu thương tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 3 năm 2009 tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tổ dân phố B, phường C, tỉnh Lào Cai. Trong quá trình chung sống vợ chồng vẫn sống hạnh phúc và cùng làm ăn kinh tế, tuy nhiên đến năm 2021 anh T là người vi phạm pháp luật và bị xử phạt tù nên đang phải chấp hành án tại trại giam H. Anh T thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, bản thân đang phải chấp hành án thời gian rất lâu nên mong muốn chị L có cuộc sống mới tốt hơn, do vậy anh T nhất trí ly hôn với chị L.
+ Con chung: Anh Lý Văn T và chị Lò Thị L có 02 con chung là Lý Anh Đ, sinh ngày 28/8/2009 và Lý Giang N, sinh 06/8/2012; do đang chấp hành án phạt tù tại trại giam nên khi ly hôn anh T nhất trí giao cho chị L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cả hai con chung và thống nhất việc chị L không yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Tài sản chung và nợ chung: Anh Lý Văn T không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai của Lý Anh Đ; Lý Giang N là các con chung của chị L và anh T thể hiện: Trong trường hợp chị L và anh T ly hôn, các con chung đều có nguyện vọng ở cùng chị L.
Do chị Lò Thị L có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, đã tiến hành lập biên bản tiếp cận công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lào Cai phát biểu quan điểm:
- Tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng.
- Điều luật áp dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật HN&GĐ năm 2014:
- Về quan hệ hôn nhân: Giải quyết cho chị Lò Thị L được ly hôn anh Lý Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Lý Anh Đ, sinh ngày 28/8/2009 và Lý Giang N, sinh 06/8/2012 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục; anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, có quyền thăm nom con chung.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí DSST: Chị Lò Thị L phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tố tụng: Chị Lò Thị L khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị L và anh Lý Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái vào ngày 13 tháng 3 năm 2009 và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 9, Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Như vậy, hôn nhân của chị L và anh T là hợp pháp.
Trong cuộc sống chung vợ chồng chị L và anh T đều xác định có mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn; hiện thời gian chấp hành án của anh T còn dài, nên chị L xin ly hôn, anh T đồng ý. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã thật sự trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho chị Lò Thị L được ly hôn với anh Lý Văn T.
[3] Con chung: Chị L và anh T có 02 con chung là Lý Anh Đ, sinh ngày 28/8/2009 và Lý Giang N, sinh 06/8/2012 hiện đang sinh sống cùng chị L.
Đối với đề nghị của chị L, sau khi ly hôn có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng cháu Đ và cháu N đang ở cùng chị L và các cháu đều có nguyện vọng được ở cùng chị L. Đối với anh T hiện đang chấp hành án phạt tù tại trại giam và đồng ý giao cháu Đ và cháu N cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng khi vợ chồng ly hôn; xét thấy, sự thống nhất của các đương sự là tự nguyện, nên Hội đồng xét xử quyết định giao cho chị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và cháu N.
Cấp dưỡng nuôi con: Chị L không đề nghị anh T phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Tài sản chung và nợ chung: Chị Lò Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Án phí: Chị Lò Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 262, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị L được ly hôn anh Lý Văn T.
- Con chung: Xử giao cho chị Lò Thị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Lý Anh Đ, sinh ngày 28/8/2009 và Lý Giang N, sinh 06/8/2012.
Anh Lý Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Án phí: Chị Lò Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai số: 0002141 ngày 02/12/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh L; chị L đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 5; - Phòng THADS khu vực 5; - UBND phường Cầu Thia; - Các đương sự; - Lưu HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Vũ Xuân |
5
Bản án số 04/2026/HNGĐ-ST ngày 16/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Lào Cai về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 04/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 – Lào Cai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Thị Luân xin ly hôn Lý Văn V
