|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2026/DS-PT
Ngày: 12/01/2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa: Ông Nguyễn Hành
- Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Mỹ Giang và Ông Phạm Hải Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tiến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Yến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12/01/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 114/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 196/2025/QĐ-PT, ngày 15/12/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữa các bên đương sự:
1. Nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1980; địa chỉ: Số A đường C, phường C (trước khi sáp nhập là phường N, thành phố Q), tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng L: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1987; địa chỉ: Số A đường L, thôn A, xã T, tỉnh Quảng Ngãi, là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 17/6/2024 tại Văn phòng C1), bà T có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn:
Ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1983, cùng địa chỉ: Số 1 đường P, phường C (trước khi sáp nhập là phường N, thành phố Q), tỉnh Quảng Ngãi. Ông C có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bà T1 có mặt tại phiên tòa.
* Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 02/4/2024, Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung đề ngày 02/5/2024, Văn bản trình bày ý kiến ngày 18/6/2024, Biên bản làm việc ngày 16/9/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Bà Nguyễn Thị Hồng L và bà Nguyễn Thị Thanh T1 từng làm việc chung thời gian dài tại Siêu thị S, mặc dù không còn làm cùng nhau nhưng hai bà thường xuyên liên lạc và có mối quan hệ chị em thân thiết, gần gũi. Do vậy, khi bà T1 hỏi vay mượn tiền thì bà L đồng ý cho vay, việc vay mượn diễn ra nhiều lần trong khoảng thời gian từ năm 2017 đến năm 2022. Lúc đầu, bà L cho bà T1 vay mỗi lần từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, do tin tưởng nhau nên hai bên không viết giấy nhận nợ mà tự ghi nhớ, thỏa thuận bằng lời nói lãi suất vay 02%/tháng tức 24%/năm, bà T1 trả lãi đầy đủ nhưng không trả được nợ gốc. Đến ngày 02/5/2020 bà L và bà T1 cùng nhau tính toán, bà T1 tự nguyện viết giấy nhận nợ bà L số tiền 200.000.000 đồng, giấy không ghi mục đích mượn tiền, không ghi ngày hoàn trả cụ thể mà xác định “tôi sẽ hoàn trả lại khi nào chị L cần”. Số tiền nhận nợ 200.000.000 đồng bao gồm tất cả các khoản nợ trước đây của bà T1 đối với bà L. Hai bên cũng thỏa thuận bằng lời nói lãi suất 02%/tháng tính từ ngày 02/5/2020. Từ ngày 02/5/2020, bà T1 tiếp tục vay tiền bà L, mỗi lần một ít, cụ thể khi nào, từng lần bao nhiêu thì bà L không nhớ được, nhưng bà T1 phải đưa lãi 02%/tháng đối với tổng số tiền vay. Khi số tiền cho vay tăng nhiều, ngày 18/01/2022 bà L và bà T1 lại cùng nhau chốt nợ, bà T1 tự nguyện viết nhận nợ bà L với tiêu đề Giấy mượn tiền với số tiền 640.000.000 đồng, bà T1 hẹn “Tôi hứa sẽ hoàn trả lại khi chị L cần”, giấy không có ngày trả nợ cụ thể, không ghi mục đích vay, không ghi lãi suất nhưng mức lãi suất bằng lời nói hai bên thống nhất vẫn là 02%/tháng đối với tổng số tiền 640.000.000 đồng từ ngày 18/01/2022, trong số tiền 640.000.000 đồng bao gồm số tiền 200.000.000 đồng bà T1 nhận nợ ngày 02/5/2020. Việc vay mượn tiền này bà L trực tiếp thỏa thuận, giao dịch, giao tiền cho vay và nhận tiền lãi với bà T1, ông C không hỏi vay, không nhận tiền vay từ bà L. Ngày 24/3/2022, bà T1 tiếp tục hỏi vay bà L số tiền 200.000.000 đồng để vợ chồng bà T1 mua xe ô tô, bà L đồng ý cho vay nên đã chuyển khoản 200.000.000 đồng vào số tài khoản của ông C tại Ngân hàng N với nội dung L chuyen canh muon”. Từ ngày 24/3/2022, bà T1 phải trả lãi cho bà L 02%/tháng trên số tiền 840.000.000 đồng. Ngày 19/9/2022, bà L có chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng vào tài khoản của bà T1 để cho bà T1 vay nhưng khoản tiền này không lấy lãi, ngày 17/11/2022 bà T1 đã chuyển khoản trả lại cho bà L 45.000.000 đồng và sau đó trả tiền mặt 55.000.000 đồng, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì với khoản vay 100.000.000 đồng này. Ngày 23/12/2022, bà T1 tiếp tục hỏi vay bà L 40.000.000 đồng để kinh doanh hàng Tết, bà L đồng ý nên đã chuyển khoản cho bà T1 40.000.000 đồng, số tiền này bà T1 hứa sẽ trả ngay nên bà L không tính lãi, đợi mãi bà T1 không trả nên tháng 02/2023 bà L đến nhà bà T1 thì bà T1 đưa cho bà L nhận 1.000.000 đồng xem như tặng bà L uống nước. Từ ngày 18/01/2022 đến nay, bà T1 đã trả lãi cho bà L tổng cộng 09 lần chuyển khoản, cụ thể: 02 lần ngày 27/5/2022 tổng tiền là 18.000.000 đồng; 01 lần ngày 06/6/2022 số tiền 15.000.000 đồng; 01 lần 28/9/2022 là 20.000.000 đồng; 01 lần ngày 06/10/2022 là 10.000.000 đồng; 01 lần ngày 04/11/2022 là 10.000.000 đồng; 01 lần ngày 31/12/2022 là 15.000.000 đồng; 01 lần ngày 31/01/2022 là 19.000.000 đồng; 01 lần vào tháng 02/2022 là 18.000.000 đồng và 07 lần trả tiền mặt tiền lãi của các tháng 01, 02, 3, 4, 7, 8, 10 của năm 2022 mỗi tháng 14.000.000 đồng, tổng số tiền lãi đã nhận từ tháng 01/2022 đến tháng 02/2023 là 223.000.000 đồng. Từ tháng 02/2023 cho đến nay, bà T1 không trả lãi, không trả được nợ gốc cho bà L. Ngày 20/3/2024, bà L đã làm Thông báo đòi nợ số tiền 880.000.000 đồng gởi cho ông C bà T1 nhận được ngày 21/3/2024. Nay bà L yêu cầu ông C, bà T1 có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền nợ gốc là 880.000.000 đồng, không yêu cầu tiền lãi. Ngoài ra không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì thêm.
* Tại Đơn yêu cầu phản tố đề ngày 20/6/2024; Đơn phản tố đề ngày 20/8/2024; Biên bản làm việc đề ngày 16/10/2024; Văn bản đề ngày 20/12/2024; Đơn trình bày trước Hội đồng xét xử đề ngày 21/9/2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1 và người đại diện hợp pháp của bà T1 thống nhất trình bày:
Bà T1 và bà L có mối quan hệ là đồng nghiệp cũ nên từ đầu năm 2017 đến năm 2022 khi bà T1 cần vốn làm ăn thì nhiều lần vay tiền của bà L, việc vay mượn tiền bà T1 đều giấu, không cho ông C (chồng bà T1) biết. Khoảng tháng 01/2017, bà T1 vay số tiền 100.000.000 đồng, không viết giấy tờ gì, thỏa thuận lãi suất 6%/tháng, trong năm 2017 bà T1 chưa trả được gốc nhưng đã trả đủ cho bà L 72.000.000 đồng tiền lãi. Ngày 03/02/2018, bà T1 tiếp tục vay 100.000.000 đồng của bà L, không viết giấy nhận nợ, bà T1 trả đủ lãi năm 2018 là 144.000.000 đồng. Năm 2019, bà T1 không trả được gốc, trả đủ lãi 144.000.000 đồng. Ngày 02/5/2020, bà L bảo bà T1 viết giấy nhận nợ 200.000.000 đồng nên bà T1 viết giấy đưa cho bà L giữ. Sau ngày 02/5/2020 thì bà T1 tiếp tục vay thêm 200.000.000 đồng vào khoảng tháng 6/2020; 100.000.000 đồng vào tháng 8/2020; 40.000.000 đồng vào tháng 9/2020; 100.000.000 đồng vào tháng 11/2021, các lần vay thêm này không viết giấy nhận nợ riêng, bà T1 trả lãi năm 2020 là 144.000.000 đồng; năm 2021 tổng tiền lãi trả cho bà L là 156.000.000 đồng. Ngày 18/01/2022, bà L yêu cầu bà T1 viết giấy nhận nợ gốc và bảo xưa nay giấu ông C rồi thì nay giấu luôn, không nói cho ông C biết nên bà T1 đã viết cho bà L 01 giấy nhận nợ đề ngày 18/01/2022 số tiền vay là 640.000.000 đồng, không ghi mục đích vay, không hẹn ngày trả và không ghi lãi suất nhưng bà T1 vẫn đều đặn trả lãi 06%/tháng trên tổng số tiền vay cho bà L. Ngày 24/3/2022, bà T1 có vay 200.000.000 đồng của bà L nhưng lần này không nhận tiền mặt mà bà T1 cho số tài khoản ngân hàng của ông C để bà L chuyển tiền. Ngày 19/9/2022, bà T1 có yêu cầu và bà L cho mượn đỡ 100.000.000 đồng để xử lý công việc kinh doanh, sau đó bà T1 đã trả lại bằng tiền mặt cho bà L ngay nên không còn nợ khoản này. Ngày 23/12/2022, bà L có chuyền vào tài khoản cho bà T1 vay 40.000.000 đồng. Như vậy từ năm 2017 đến cuối năm 2022, bà T1 thừa nhận có vay và đồng ý trả cho bà L số tiền là 880.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà T1 đã trả lãi cho bà L tổng số tiền lãi là 895.000.000 đồng, vượt tiền tiền gốc nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, khấu trừ tiền lãi trả vượt theo quy định pháp luật vào nợ gốc cho bị đơn. Nội dung các đơn yêu cầu phản tố bị đơn nộp
cho Tòa án, sau khi xem xét lại thì bị đơn xác định đều là ý kiến phản đối của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn đã tự nguyên rút đơn phản tố, không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì thêm.
* Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự đề ngày 20/8/2024; trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Quang C trình bày:
Ông là chồng của bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông chỉ biết bà L là chỗ quen biết, đồng nghiệp cũ với vợ ông, ông không có quan hệ mua bán, làm ăn gì với bà L. Việc vay mượn tiền giữa bà T1 và bà L ông không biết, ông không vay, không nhận và sử dụng tiền vay trừ lần vay ngày 24/3/2022 bà L chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của ông số tiền 200.000.000 đồng với nội dung "L chuyen canh muon". Ông đồng ý cùng bà T1 trả cho bà L số tiền 200.000.000 đồng ngoài ra ông không yêu cầu, ý kiến gì thêm.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2025/DS-ST, ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 227, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 27/6/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng L. Buộc ông Nguyễn Quang C và bà Nguyễn Thị Thanh T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị Hồng L số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), trong đó ông C phải trả 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), bà T1 phải trả 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị Hồng L số tiền 634.086.757 đồng (Sáu trăm ba mươi bốn triệu, không trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm năm mươi bảy đồng). Tổng số tiền bà Nguyễn Thị Thanh T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị Hồng L là 734.086.757 đồng (Bảy trăm ba mươi bốn triệu, không trăm tám mươi sáu nghìn, bảy trăm năm mươi bảy đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, tiền lãi chậm thi hành án, quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 06/10/2025, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1 kháng cáo toàn bộ nội dung của Bản án Dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST, ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chỉ chấp nhận một phần yêu cầu đơn khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể bà chỉ có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc còn lại là 51.501.000 đồng. Tại các bản tự khai ngày 15/12/2025 và ngày 05/01/2026, bà T1 thừa nhận còn vay của bà L 880.000.000 đồng nợ gốc, nhưng bà đã trả
895.000.000 tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật, đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để xét xử lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, tuy nhiên, nguyên đơn nhất trí tính lại mức lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1 không rút đơn kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để xét xử lại; ông Nguyễn Quang C có đơn xin vắng mặt và có ý kiến việc bà T1 vay bà L ông không biết, số tiền bà T1 vay bà T1 sử dụng vào mục đích cá nhân, không sử dụng vào chi tiêu của gia đình; đối với số tiền 200.000.000 đồng bà L cho bà T1 vay chuyển vào tài khoản của ông để nhờ ông rút dùm cho bà T1, ông không sử dụng số tiền này. Do đó, ông không có nghĩa vụ trả 100.000.000 cho bà L như bản án sơ thẩm tuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến như sau:
Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận hủy án Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST, ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi; áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự sửa một phần bản án sơ thẩm về phần lãi suất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét nội dung, quyết định của bản án sơ thẩm, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, đơn kháng cáo và bản tự khai ngày 15/12/2025, ngày 05/01/2026 của bị đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ngãi là đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn có đơn kháng cáo trong thời hạn, đúng quy định tại Điều 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Trong quá trình Tòa án giải quyết tại cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện, bà Nguyễn Thị Thanh T1 thừa nhận có vay bà Nguyễn Thị Hồng L 880.000.000đ và bà T1 thừa nhận chưa trả bà L tiền gốc. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh.
[2.2] Về tiền lãi:
[2.2.1] Mức lãi suất:
Trong quá trình giải quyết vụ án bà L và bà T1 đều thừa nhận vay có lãi, nhưng bà T1 cho rằng bà vay bà L với mức lãi suất 06%/tháng, tức là 72%/năm; còn bà L cho rằng bà cho bà T1 vay với mức lãi suất 02%/tháng tức là 24%/năm.
Tại phiên tòa nguyên đơn nhất trí tính lại mức lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Xét thấy, nguyên đơn tự nguyện đề nghị tính lại lãi suất theo mức 10%/năm, đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, để đảm bảo quyền lợi của bị đơn, HĐXX ghi nhận tự nguyện của nguyên đơn về áp dụng mức lãi suất 10%/ năm.
[2.2.2] Về tiền lãi:
Bà T1 cho rằng từ năm 2017 đến tháng 02/2023, bà đã trả cho bà L 895.000.000 tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản và tiền mặt. Việc bà L chỉ thừa nhận từ ngày 18/01/2022 đến ngày 24/02/2023 bà đã nhận tiền lãi của bà T1 223.000.000, mà không thừa nhận số tiền bà T1 đã trả lãi từ năm 2017 đến trước ngày 18/01/2022 là không đúng. Do đó, bà T1 yêu cầu hủy án sơ thẩm để xét xử lại, và phải tính lãi bà đã trả từ năm 2017 đến tháng 2/2023 là 895.000.000đồng. Đối với nội dung này HĐXX phúc thẩm thấy rằng:
Cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận từ năm 2017 đến trước ngày 18/01/2022, bà L cho bà T1 vay tiền nhiều lần. Đến ngày 18/01/2022 bà L và bà T1 cùng nhau chốt nợ, bà T1 tự nguyện viết nhận nợ bà L với tiêu đề Giấy mượn tiền với số tiền 640.000.000 đồng. Nên việc trả lãi từ năm 2017 đến ngày 18/01/2022 đã được hai bà thanh toán chốt nợ và viết Giấy mượn tiền 640.000.000 đồng.
Mặt khác, trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm nguyên đơn không thừa nhận số tiền lãi 895.000.000 đồng; bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc nguyên đơn nhận 895.000.000₫ tiền lãi. Đối với tài liệu thể hiện việc bà T1 ghi chép theo dõi ngày, tháng, năm, số tiền, địa điểm của việc mượn tiền gốc, trả tiền lãi giữa bà với bà L (từ bút lục 55 đến bút lục 62) nhưng không có bất kỳ chữ ký xác nhận nào của bà L. Đối với các sao kê ngân hàng bà T1 cung cấp thể hiện từ ngày 24/9/2020 đến ngày 31/01/2023 bà T1 có chuyển khoản cho bà L 18 lần với tổng số tiền 258.000.000 đồng và cũng trong khoảng thời gian trên bà L chuyển khoản cho bà T1 02 lần với tổng số tiền 45.000.000 đồng (Từ bút lục số 65 đến bút lục 87). Nhưng các giao dịch giữa bà T1 với bà L và ngược lại đều không thể hiện nội dung các lần chuyển tiền. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bị đơn bà T1 đã trả lãi cho bà L từ năm 2017 đến tháng 2/2023.
Căn cứ vào thừa nhận của bà L đã nhận 223.000.000 tiền lãi của bà T1 (98.000.000 tiền mặt và 125.000.000 chuyển khoản) theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh. Do đó, cấp sơ thẩm
xác định số tiền lãi bà L đã nhận tính từ ngày 18/01/2022 đến ngày 24/02/2023 là 223.000.000 đồng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, cấp phúc thẩm thấy rằng khi tính lãi suất cấp sơ thẩm có sai sót trong việc xác định tháng tính lãi. Cụ thể: Từ ngày 18/01/2022 đến ngày 23/3/2022, là 02 tháng 05 ngày nhưng cấp sơ thẩm tính 01 tháng 05 ngày; từ ngày 24/3/2022 đến ngày 24/02/2023 là 12 tháng nhưng cấp sơ thẩm tính 11 tháng. Từ việc tính sai tháng, dẫn đến tính sai số tiền lãi phải trả, nên cấp phúc thẩm tuyên lại cho đúng.
Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự và Điều 9 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định:
- Từ ngày 18/01/2022 đến ngày 23/3/2022, bà T1 nợ số tiền 640.000.000 đồng x 10%/năm x 02 tháng 05 ngày thành tiền là 11.556.000 đồng.
- Từ ngày 24/3/2022 đến ngày 24/02/2023, bà T1 nợ số tiền 840.000.000 đồng x 10%/năm x 12 tháng thành tiền là 84.000.000 đồng.
Tổng số tiền lãi trên số tiền nợ bà T1 phải thanh toán theo quy định là 95.556.000 đồng. Đối chiếu với số tiền lãi có căn cứ bà T1 đã trả cho bà L là 223.000.000 đồng, thì bà T1 đã trả vượt 127.444.000 đồng. Số tiền trả vượt này được trừ vào số tiền nợ gốc nên bà T1 còn phải thanh toán cho bà L 680.000.000 đồng – 127.444.000 đồng = 552.556.000 đồng.
[3] Về ý kiến của ông C: Số tiền 200.000.000 đồng bà L chuyển vào tài khoản của ông C, ông không đồng ý trả 100.000.000 đồng như cấp sơ thẩm tuyên.
Cấp phúc thẩm thấy rằng: Ngày 24/3/2022 bà L chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của ông số tiền 200.000.000 đồng với nội dung "L chuyen canh muon". Điều này thể hiện ông biết việc vay tiền và đồng ý vay, không phản đối. Đồng thời, trong suốt quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm ông đồng ý cùng bà T1 trả cho bà L số tiền 200.000.000 đồng, sau khi xét xử sơ thẩm ông cũng không kháng cáo về nội dung trên. Mặt khác, tại cấp phúc thẩm ông C không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh việc ông chỉ nhận dùm bà L, ông không sử dụng số tiền đó. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận sửa án sơ thẩm về nội dung này.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà T1, ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên bà T1 là người khuyết tật có Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M (nay là xã M), tỉnh Quảng Ngãi (bút lục số 125, 126) và có đơn xin miễn nộp án phí nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bà L phải chịu án phí về phần yêu cầu không được Hội đồng xét xử chấp nhận, khấu trừ với tạm ứng án bà L đã nộp để hoàn trả lại tạm ứng án phí cho bà L.
[4] Về án phí phúc thẩm:
Kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 293; khoản 2 Điều 308; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1 đề ngày 06/10/2025. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2025/DS-ST, ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi.
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 9 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng L. Buộc ông Nguyễn Quang C và bà Nguyễn Thị Thanh T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị Hồng L số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), trong đó ông C phải trả 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), bà T1 phải trả 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị Hồng L số tiền 552.556.000 đồng (năm trăm năm mươi hai triệu, năm trăm năm mươi sáu nghìn đồng). Tổng số tiền bà Nguyễn Thị Thanh T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị Hồng L là 652.556.000 đồng (sáu trăm năm mươi hai triệu, năm trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án dân sự cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án dân sự còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí sơ thẩm:
- Buộc ông Nguyễn Quang C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
- Buộc bà Nguyễn Thị Hồng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền không được chấp nhận (127.444.000 đồng), án phí là: 6.372.200 đồng (Sau triệu ba trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp là 19.200.000 đồng (Mười chín triệu, hai trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002883 ngày 31/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Quảng Ngãi), hoàn trả lại cho bà L 12.827.800 đồng (Mười hai triệu, tám trăm hai mươi bảy nghìn, tám trăm đồng).
4. Về án phí phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thanh T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà T1 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001530 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện và cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hành |
9
10
Bản án số 04/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 04/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo. Sửa bản án dân sự sơ thẩm
