Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 17 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/HNGĐ-ST

Ngày: 20/01/2026

V/v: Tranh chấp Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hữu Sinh
  2. Ông Vũ Xuân Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Huệ – Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Phú Thọ tham gia phiên tòa:

Bà Đinh Thị Thu Huyền; Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 69/2025/TLST- HNGĐ, ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 09/12/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2025/QÐST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Q, sinh ngày: 20/01/1993

Địa chỉ: Xóm Đ, xã Y, tỉnh Phú Thọ.

Căn cước công dân số: 017193009771; Cấp ngày 25/6/2021

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

+ Bị đơn: Anh Bùi Tiến T, sinh ngày: 25/9/1992

Địa chỉ: Xóm Đ, xã Y, tỉnh Phú Thọ.

Căn cước công dân số: 017092003630; Cấp ngày 25/6/2021

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2025 và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị Q trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Q và anh Bùi Tiến T tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau và thành hôn vào năm 2018, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y (cũ). Sau khi kết hôn, chị Bùi Thị Q và anh Bùi Tiến T về sinh sống tại xóm Đ, xã N (nay là xóm Đ, xã Y, tỉnh Phú Thọ), thời gian đầu sống chung với nhau hạnh phúc, đến tháng 6/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên vợ chồng bất hòa thường xuyên cãi nhau làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hiện cả 02 ly thân nhau từ năm 2023, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm lo lắng cho nhau. Nay chị Bùi Thị Q xác định hôn nhân không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu ly hôn với anh Bùi Tiến T.

-Về con chung: Chị Bùi Thị Q và anh Bùi Tiến T có 02 con chung là Bùi Tiến D, sinh ngày 16/6/2019 hiện cháu đang ở cùng anh Bùi Tiến T và bà nội Nghiêm Thị V, cháu thứ hai là Bùi Tiến D1, sinh ngày: 14/01/2022 hiện cháu đang ở cùng chị Bùi Thị Q, vợ chồng ly hôn chị Bùi Thị Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dạy cháu Bùi Tiến D1 cho đến khi trưởng thành và giao cháu Bùi Tiến D cho anh Bùi Tiến T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, hai bên chưa bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.

-Quyền và nghĩa vụ tài sản: Chị Bùi Thị Q xác nhận vợ chồng anh, chị không nợ gì của ai và cũng không ai nợ vợ chồng anh, chị; không tranh chấp tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Bị đơn anh Bùi Tiến T: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trả lời. Tòa án đã tống đạt các giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không lý do. Như vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại biên bản lấy lời khai của bà Nghiêm Thị V (Mẹ đẻ sống cùng nhà anh Bùi Tiến T) cho biết: Bà là mẹ đẻ anh Bùi Tiến T, sau khi chị Q và anh T kết hôn thì anh chị về chung sống cùng với bà, quá trình chung sống anh T làm thợ xây còn chị Q đi làm công ty, đến khoáng tháng 6/2025 thì vợ chồng anh T, chị Q thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn thì bà không biết, đến khoảng tháng 7/2025 thì chị Q dắt theo cháu nhỏ là Bùi Tiến D1 về nhà bố mẹ đẻ sinh sống cho đến nay, kể từ thời điểm đó đến nay chị Q không về nhà chung sống cùng anh T. Nay chị Q yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn bà đã trao đổi nói chuyện với anh T để mong vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn tuy nhiên anh T không có ý kiến gì và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. (BL29)

Xác minh Trưởng xóm Đ, xã N ông Vũ Đình K cho biết: Vợ chồng anh Bùi Tiến T và chị Bùi Thị Q có hộ khẩu thường trú tại địa phương, từ tháng 7/2025 thì chị Q về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, quá trình chung sống tại địa phương anh T làm thợ xây, chị Q làm công nhân gần nhà. Ban quản lý xóm không nắm rõ nguyên nhân mâu thuẫn cũng như chưa nhận được yêu cầu hòa giải tại cơ sở của vợ chồng anh T và chị Q. (BL31)

Xác minh tại Tổ an ninh xóm Đ, xã N được biết:

Anh T và chị Q kết hôn vào năm 2018 sau đó sinh sống cùng mẹ đẻ anh T là bà Nghiêm Thị V, sau khi kết hôn anh T làm thợ xây còn chị Q làm công nhân, gia đình có hai con chung là cháu D và cháu D1 còn nhỏ, đến khoảng tháng 7/2025 thì chị Q dắt theo cháu D1 đi còn cháu lớn ở với anh T và bà V, nguyên nhân mẫu thuẫn gia đình anh T, chị Q là gì thì không nắm rõ.

Ngày 29/12/2025 vụ án được đưa ra xét xử, nguyên đơn chị Bùi Thị Q có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Bùi Tiến T vắng mặt nên phiên tòa phải hoãn lần thứ nhất. Hôm nay bị đơn anh Bùi Tiến T vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do, chị Bùi Thị Q có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Phú Thọ phát biểu ý kiến:

Căn cứ Điều 56, 59, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là cho chị Bùi Thị Q được ly hôn anh Bùi Tiến T. Về con chung: Giao cháu Bùi Tiến D, sinh ngày 16/6/2019 (hiện cháu đang ở cùng anh Bùi Tiến T và bà nội Nghiêm Thị V) cho anh Bùi Tiến T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành hoặc có thay đổi khác; Giao cháu Bùi Tiến D1, sinh ngày: 14/01/2022 cho chị Bùi Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc có thay đổi khác, hai bên chưa bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào; Về tài sản chung và nợ chung: Không có; Chị Bùi Thị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng dân sự:

Chị Bùi Thị Q khởi kiện xin ly hôn với anh Bùi Tiến T. Hiện anh Bùi Tiến T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Xóm Đ, xã Y, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Phú Thọ

Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo khoản 1, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tiến hành triệu tập, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Bùi Tiến T nhiều lần có lần anh T trực tiếp nhận văn bản, có lần người nhận thay là mẹ đẻ bà Nghiêm Thị V đã giao lại cho anh T. Mặc dù biết việc triệu tập nhưng anh Bùi Tiến T không tới Tòa án để giải quyết, cố tình trốn tránh. Theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự: Đương sự phải có nghĩa vụ tôn trọng Tòa án, phải có mặt theo giấy triệu tập và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Như vậy, anh Bùi Tiến T đã từ bỏ quyền lợi của mình về việc được nêu quan điểm, ý kiến và cung cấp chứng cứ chứng minh. Theo Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa chỉ căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do nguyên đơn cung cấp cũng như các tài liệu mà Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Về sự có mặt của đương sự: Tòa án đã triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ 2 nhưng bị đơn anh Bùi Tiến T vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật, đối với chị Bùi Thị Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Bùi Thị Q và anh Bùi Tiến T tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau, không ai ép buộc việc kết hôn và thành hôn vào năm 2018 có tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y (C). Sau khi kết hôn, chị Bùi Thị Q và anh Bùi Tiến T sống chung với nhau hạnh phúc đến khoảng thời gian năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên vợ chồng bất hòa làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến cả 02 ly thân nhau từ tháng 6/2025 cho đến nay, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm lo lắng cho nhau. Căn cứ vào lời khai của đương sự và kết quả xác minh, Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị Bùi Thị Q và anh Bùi Tiến T đã căng thẳng, kéo dài, cả hai đã sống ly thân mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Q.

[3] Về con chung:

Quá trình chung sống chị Bùi Thị Q và anh Bùi Tiến T có 02 con chung là cháu Bùi Tiến D, sinh ngày 16/6/2019 hiện cháu đang ở cùng anh Bùi Tiến T và Bùi Tiến D1, sinh ngày 14/01/2022 hiện cháu đang ở cùng chị Bùi Thị Q. Khi giải quyết ly hôn, chị Bùi Thị Q có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Bùi Tiến D1 cho đến khi cháu trưởng thành; đồng thời đồng ý giao cháu Bùi Tiến D cho anh Bùi Tiến T trực tiếp nuôi dưỡng, chưa đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung.

Xét thấy, tại thời điểm giải quyết vụ án, cháu Bùi Tiến D1 mới hơn 03 tuổi, là trẻ còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc trực tiếp, thường xuyên của mẹ. Việc giao cháu D1 cho chị Bùi Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho cháu, đặc biệt là về tâm sinh lý và sự phát triển toàn diện của trẻ.

Đối với cháu Bùi Tiến D, hiện cháu đang sinh sống ổn định cùng anh Bùi Tiến T và bà nội, môi trường sống không có xáo trộn, việc học tập và sinh hoạt của cháu được bảo đảm. Việc tiếp tục giao cháu D cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng sẽ giúp cháu duy trì sự ổn định về chỗ ở, học tập và tâm lý, phù hợp với lợi ích của cháu.

Xét thấy nguyện vọng của chị Bùi Thị Q về việc mỗi bên trực tiếp nuôi dưỡng một con là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với điều kiện thực tế nuôi dưỡng, lợi ích mọi mặt của các cháu, nên cần được chấp nhận.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị Q chưa yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét; các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng khi có căn cứ theo quy định của pháp luật.

[4]Về tài sản chung và nợ chung:

Đương sự khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]Về án phí: Chị Bùi Thị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[6]Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227, Điều 228, Điều 212, Điều 213, Điều 235 và Điều 246 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, điều 57, điều 81, điều 82, điều 83, điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Q được ly hôn với anh Bùi Tiến T.
  2. Về con chung:
    • + Giao cháu Bùi Tiến D1, sinh ngày 14/01/2022, cho chị Bùi Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác của Tòa án theo quy định của pháp luật.
    • + Giao cháu Bùi Tiến D, sinh ngày 16/6/2019, cho anh Bùi Tiến T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác của Tòa án theo quy định của pháp luật.
    • - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị Q, anh Bùi Tiến T chưa bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng bên nào.
    • - Quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung: Chị Bùi Thị Q và anh Bùi Tiến T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không trực tiếp nuôi dưỡng mà không ai được cản trở; việc thăm nom phải bảo đảm không làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con chung của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của người không trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Bùi Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo biên lai số 0002873, ngày 07/10/2025. Xác nhận chị Bùi Thị Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Q và anh Bùi Tiến T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ
  • - VKSND khu vực 17 – Phú Thọ
  • - Phòng THADS khu vực 17;
  • - UBND xã nơi đương sự cư trú
  • - Đương sự
  • - Lưu HSVA.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Trung Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2026/HNGĐ-ST ngày 20/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – PHÚ THỌ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 03/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Q + Bùi Tiến T tranh chấp ly hôn nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger