TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN Bản án số: 03/2026/ST-DS Ngày: 30-01-2026 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Xuân Thọ - Thẩm phán.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Bá Tấn.
- Ông Nguyễn Đình Bảng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Kiên – Thư ký, Toà án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 30/01/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 207/2025/TLST- DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 về việc “ tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định hoãn phiên tòa số 02/2026/QĐST- DS ngày 13/01/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần L1.
- - Ông Vũ Quốc K – Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
- - Ông Lê Hoài N – Giám đốc Chi nhánh N1 là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 21.03.2025) (vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Thành S – Chuyên viên xử lý nợ là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 05.09.2025) (có mặt).
- Bị đơn:
Địa chỉ: Tòa nhà T, số B đường T, phường H, TP Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Hữu V (vắng mặt) và bà Trần Thị L (vắng mặt).
Nơi cư trú: xóm L, xã G, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 10 năm 2025 và trong quá giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần L1 trình bày:
Ngày 18/05/2023, khách hàng ông Nguyễn Hữu V, bà Trần Thị L và Ngân hàng thương mại cổ phần L1 (viết tắt là L2) ký hợp đồng tín dụng số HDTD23D2023198, nội dung như sau:
- Số tiền vay: 300.000.000 đồng.
- Thời hạn vay vốn:10 năm kể từ ngày 19/05/2023 đến ngày 18/05/2033.
- Mục đích vay: Mua sắm nội thất và đồ gia dụng.
- Lãi suất cho vay: 11,7%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi và được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên lãi suất sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng.
- Lịch trả nợ gốc: Trả đều hàng tháng vào ngày 15.
- Lịch trả lại: Lãi trả hàng tháng vào ngày 15.
- Lãi suất nợ gốc quá hạn : 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
- Tài sản đảm bảo cho khoản tiền vay:
- Khách hàng vi phạm các điều khoản theo hợp đồng thì L2 có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn và gửi thông báo cho khách hàng được biết.
Ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, thửa đất số 44, tờ BĐ 39, diện tích 292,2 m² đất ở, địa chỉ: xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) số CB048814 cho ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L ngày 20/11/2015, tại L2 để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
- Ngày 19/05/2023 L2 đã giải ngân cho ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L 300.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản. Ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L đã ký khế ước nhận nợ 300.000.000 đồng.
Thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Hữu V, bà Trần Thị L trả tiền gốc định kỳ và tiền lãi đầy đủ đến tháng 5/2025 là 147.936.509 đồng (trong đó : 72.421.735 đồng tiền gốc và 75.514.774 đồng tiền lãi), đến kỳ tiếp theo ngày 15.06.2025 phải trả tiền gốc định kỳ và tiền lãi nhưng ông V, bà L chỉ trả được 131.248 đồng tiền lãi và cho đến nay ông V, bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên L2 ra thông báo thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn từ ngày 17/06/2025 (lãi suất quán hạn 21,7%) gửi cho ông V, bà L. Nhưng ông V, bà L vẫn không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo thông báo.
Do đó L2 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L phải trả cho L2 như sau:
- Nợ gốc 227.578.265 đồng.
- Nợ lãi trong hạn: Từ ngày 16/05/2025 đến ngày 16/06/2025 là 244.854.265 đồng x 31 ngày x 14,49%/năm = 3.013.317 đồng, đã trả 131.248 đồng còn đồng 2.882.069 đồng.
- Nợ lãi quá hạn: là: 32.157.300 đồng. Trong đó.
- Từ ngày 17/06/2025 đến ngày 11/10/2025 là 117 ngày x 244.854.265 đồng x 14,49%/năm x 150% = 17.059.265 đồng.
- Từ ngày 12/10/2025 đến ngày 08/11/2025 là 27 ngày x 240.854.265 đồng x 14,49%/năm x 150% = 3.872.442 đồng ( đã làm tròn số).
- Từ ngày 09/11/2025 đến ngày 15/12/2025 là 36 ngày x 232.854.265 đồng x 14,49%/năm x 150% = 4.991.757 đồng.
- Từ ngày 16/12/2025 đến ngày 30/01/2026 là 46 ngày x 227.578.265 đồng x 14,49%/năm x 150% = 6.233.836 đồng.
- Tổng nợ là 262.617.634 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.
- Trong trường hợp khách hàng ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L không trả được nợ hoặc không trả đủ nợ cho cho L2 thì cho phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.
- Trường hợp sau khi phát mãi bán tài sản đảm bảo mà không đủ bù đắp số tiền gốc nợ vay, tiền lãi vay, án phí, lệ phí, chi phí phát mãi tài sản (nếu có) thì khách hàng ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Nghệ An, công bố việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án tuân theo pháp luật của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tuân theo pháp luật, vắng mặt phiên họp, phiên hòa giải, xem xét thẩm định tại chỗ, phiên tòa.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 307, 318, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; Điều 100, 103, 105 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 27 Luật đất đai năm 2024; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần L1.
- Buộc ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần L1 số tiền còn nợ tạm tính đến hết ngày 30/01/2026 là 262.617.634 đồng. Trong đó nợ gốc là 227.578.265 đồng; nợ lãi trong hạn là 2.882.069 đồng; nợ lãi quá hạn là 32.157.300 đồng.
-Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết chi phí thẩm định nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bị đơn ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L có địa chỉ rõ ràng trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp động sản. Đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông V, bà L vắng mặt phiên họp không có lý do và không yêu cầu phản tố, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện và các tài liệu chứng cứ.
Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 2 nhưng ông V, bà L vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành phiên họp và đã tống đạt kết quả phiên họp cho ông V, bà L.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho ông V, bà L nhưng ông V, bà L vắng mặt tại phiên tòa lần 2, không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[2] Ngày 18/05/2023, khách hàng ông Nguyễn Hữu V, bà Trần Thị L và L2 ký hợp đồng tín dụng số HĐTD23D2023198, nội dung như sau:
- Số tiền vay: 300.000.000 đồng.
- Thời hạn vay vốn:10 năm kể từ ngày 19/05/2023 đến ngày 18/05/2033.
- Mục đích vay: Mua sắm nội thất và đồ gia dụng.
- Lãi suất cho vay: 11,7%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi và được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên lãi suất sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng.
- Lịch trả nợ gốc: Trả đều hàng tháng vào ngày 15.
- Lịch trả lại: Lãi trả hàng tháng vào ngày 15.
- Lãi suất nợ gốc quá hạn : 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
- Tài sản đảm bảo cho khoản tiền vay:
- Khách hàng vi phạm các điều khoản theo hợp đồng thì L2 có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn và gửi thông báo cho khách hàng được biết.
Ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, thửa đất số 44, tờ BĐ 39, diện tích 292,2 m² đất ở, địa chỉ: xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) số CB048814 cho ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L ngày 20/11/2015, tại L2 để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
[3] Thực hiện hợp đồng:
Ngày 19/05/2023 L2 đã giải ngân cho ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L 300.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản. Ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L đã ký khế ước nhận nợ 300.000.000 đồng.
Thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Hữu V, bà Trần Thị L trả tiền gốc định kỳ và tiền lãi đầy đủ đến tháng 5/2025 là 147.936.509 đồng (trong đó : 72.421.735 đồng tiền gốc và 75.514.774 đồng tiền lãi), đến kỳ tiếp theo ngày 15.06.2025 phải trả tiền gốc định kỳ và tiền lãi nhưng ông V, bà L chỉ trả được 131.248 đồng tiền lãi và cho đến nay ông V, bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên L2 ra thông báo thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn từ ngày 17/06/2025 (lãi suất quán hạn 21,7%) gửi cho ông V, bà L. Nhưng ông V, bà L vẫn không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo thông báo.
Do đó L2 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L phải trả cho L2 như sau:
- Nợ gốc 227.578.265 đồng.
- Nợ lãi trong hạn: Từ ngày 16/05/2025 đến ngày 16/06/2025 là 244.854.265 đồng x 31 ngày x 14,49%/năm = 3.013.317 đồng, đã trả 131.248 đồng còn đồng 2.882.069 đồng.
- Nợ lãi quá hạn: là: 32.157.300 đồng. Trong đó.
- Từ ngày 17/06/2025 đến ngày 11/10/2025 là 117 ngày x 244.854.265 đồng x 14,49%/năm x 150% = 17.059.265 đồng.
- Từ ngày 12/10/2025 đến ngày 08/11/2025 là 27 ngày x 240.854.265 đồng x 14,49%/năm x 150% = 3.872.442 đồng.
- Từ ngày 09/11/2025 đến ngày 15/12/2025 là 36 ngày x 232.854.265 đồng x 14,49%/năm x 150% = 4.991.757 đồng.
- Từ ngày 16/12/2025 đến ngày 30/01/2026 là 46 ngày x 227.578.265 đồng x 14,49%/năm x 150% = 6.233.836 đồng.
- Tổng nợ là 262.617.634 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng tín dụng số HĐTD23D2023198 ngày 18/05/2023 đã được các bên ký, ghi họ tên, điểm chỉ. Hợp đồng thế chấp bất động sản đã được các bên ký, ghi họ tên, điểm chỉ trước mặt công chứng viên Nguyễn Anh Đ – Văn phòng C, trình tự thủ tục thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.
Thực hiện hợp đồng, L2 đã giải ngân 300.000.000 đồng cho ông V, bà L và ông V, bà L đã ký nhận nợ 300.000.000 đồng.
Ông V, bà L thực hiện hợp đồng đã thanh toán tiền gốc, tiền lãi khoản vay cho L2 đến ngày 15/05/2025 với mức lãi suất 14,49%/năm, số tiền là 147.936.509 đồng (trong đó 72.421.735 đồng tiền gốc, 75.514.774 đồng tiền lãi)
Như vậy hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp bất động sản, động sản hợp pháp về cả nội dung và hình thức, đã được các bên thực hiện cần được chấp nhận.
Theo Hợp đồng tín dụng ông V, bà L phải trả tiền lãi vào ngày 15 hàng tháng. Tuy nhiên đến kỳ hạn trả tiền gốc, tiền lãi ngày 15/06/2025 ông V, bà L không nộp. Theo Hợp đồng tín dụng ngày 16/05/2025 L2 đã ra thông báo thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay, chuyển nợ quá hạn từ ngày 17/06/2025 nhưng ông V, bà L không thực hiện. Do ông V, bà L vi phạm hợp đồng nên L2 yêu cầu ông V, bà L trả tiền gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn cho L2 theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của L2. Buộc ông V, bà L phải trả cho L2 là 262.617.634 đồng (trong đó: nợ gốc là 227.578.265 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.882.069 đồng, nợ lãi quá hạn là 32.157.300 đồng) và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.
[5] Tài sản thế chấp:
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/12/2025 Thửa đất thế chấp có kích thước, diện tích, vị trí tọa độ đúng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và tài sản gắn liền thửa đất. Đất không có tranh chấp.
[6] Về án phí, chi phí tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện của L2 được chấp nhận nên ông V, bà L phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 262.617.634 x 5% = 13.130.881 đồng.
Tại phiên tòa L2 không yêu cầu Tòa án giải quyết chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 307, 318, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; Điều 100, 103, 105 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 27 Luật đất đai năm 2024; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần L1.
- Buộc ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần L1 số tiền còn nợ tạm tính đến hết ngày 30/01/2026 là 262.617.634 đồng ( Hai trăm sáu mươi hai triệu, sáu trăm mười bảy nghìn, sáu trăm ba mươi tư đồng). Trong đó nợ gốc là 227.578.265 đồng; nợ lãi trong hạn là 2.882.069 đồng; nợ lãi quá hạn là 32.157.300 đồng.
- Xử lý tài sản thế chấp:
- Án phí:
- Thi hành án, nghĩa vụ chậm thi hành án:
- Quyền kháng cáo:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L không trả hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số HĐTD23D2023198 ngày 18/05/2023 thì Ngân hàng thương mại cổ phần L1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An xử lý tài sản thế chấp “Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thửa đất số 44, tờ BĐ 39, diện tích 292,2 m² đất ở, địa chỉ: xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An (cũ). Được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) số CB048814 cho ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L ngày 20/11/2015, theo quy định của pháp luật.
Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán các chi phí xử lý tài sản thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chệnh lệch phải được trả cho ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L.
Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán các chi phí xử lý tài sản thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L tiếp tục phải thực hiện.
Trường hợp ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L trả đủ số tiền nợ trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần L1 có nghĩa vụ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L.
Buộc ông Nguyễn Hữu V và bà Trần Thị L phải chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm là 13.130.881₫ ( Mười ba triệu, một trăm ba mươi nghìn, tám trăm tám mươi mốt đồng)
Ngân hàng thương mại cổ phần L1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.570.000₫ ( Sáu triệu, năm trăm bảy mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002477 ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Xuân Thọ |
Bản án số 03/2026/ST-DS ngày 30/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 03/2026/ST-DS
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng VỊ -- LAN
