|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 03/2026/HNGĐ - PT Ngày 29 - 01 - 2026. V/v “Kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán: Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn San.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tử Lượng và ông Trần Công Đoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2025/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 02/2026/TB-TA ngày 06 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Đỗ Quang T, sinh năm 1945, có mặt.
- - Bị đơn: Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1944, có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Đỗ Quang T2 (tên gọi khác: Đỗ Văn T3), sinh năm 1972, có mặt.
- + Chị Đỗ Thị Ngọc Y, sinh năm 1974, có mặt.
- + Anh Đỗ Tuấn A, sinh năm 1980, có mặt.
- + Chị Lê Thị Thanh H, sinh năm 1983, có đơn xin vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1986, có đơn xin vắng mặt.
Các đương sự đều có địa chỉ: Tổ dân phố M, phường P, tỉnh Ninh Bình.
Người kháng cáo: Chị Đỗ Thị Ngọc Y - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được xác định như sau:
Ông Đỗ Quang T và bà Bùi Thị T1 kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại xã T, huyện B, tỉnh Hà Tây, nay là thành phố Hà Nội vào tháng 10 năm 1971. Tuy nhiên thời gian đã lâu nên đăng ký kết hôn đã bị mất và cơ quan đăng ký kết hôn cũng không còn giấy tờ lưu trữ. Vợ chồng ông bà sinh được 03 người con gồm: Anh Đỗ Quang T2, Chị Đỗ Thị Ngọc Y, Anh Đỗ Tuấn A.
Sau khi kết hôn vợ chồng ông T được bố mẹ ông T cho thửa đất số 189 tờ bản đồ 7, diện tích 793 m2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06 tháng 5 năm 1992 cho chủ sử dụng Đỗ Quang T. Đến ngày 03 tháng 07 năm 2006 thửa đất trên được Ủy ban nhân dân thị xã P cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 793145 mang tên hộ ông Đỗ Quang T và bà Bùi Thị T1 và được sửa đổi thành thửa đất số 23, tờ bản đồ số 3, diện tích 777m2; địa chỉ xã L, thị xã P, tỉnh Hà Nam. Ngày 23 tháng 02 năm 2023 Ủy ban nhân dân thành phố P cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 828729 cho hộ ông Đỗ Quang T và bà Bùi Thị T1 tại thửa đất số 23, tờ bản đồ số 3; địa chỉ tổ dân phố M, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam diện tích sử dụng riêng 777m2 đất ở tại đô thị. Hiện nay trên thửa đất có nhà và các công trình phụ trên đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Đỗ Thị Ngọc Y trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của chị Đỗ Thị Ngọc Y: Đối với nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chia thửa đất số 23 cho các thành viên trong hộ gia đình, xét thấy: Căn cứ vào hồ sơ địa chính, thửa đất ông T, bà T1 đang quản lý, sử dụng có nguồn gốc của bố mẹ ông T là cụ Đỗ Văn N1 và cụ Lữ Thị B để lại cho vợ chồng ông T. Năm 1992, ông Đỗ Quang T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 189. Theo bản đồ năm 2003 thì thửa đất trên là thửa đất số 23, diện tích 777m2 mang tên Đỗ Quang T. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 23 là tài sản chung của vợ chồng ông T bà T1 là có căn cứ.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của chị Đỗ Thị Ngọc Y. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Đỗ Thị Ngọc Y phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, số tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001438 ngày 09/10/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình được đối trừ khi thi hành án.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Ninh Bình; - TAND khu vực 5 - Ninh Bình; - THAD tỉnh Ninh Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn San |
Bản án số 03/2026/HNGĐ - PT ngày 29/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình về kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Số bản án: 03/2026/HNGĐ - PT
- Quan hệ pháp luật: Kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V/v “Kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”
