|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 03/2026/HNGĐ-PT Ngày 23-01-2026 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung và nợ chung”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ửng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hạnh và ông Dương Hà Ngân
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng cơ sở 2, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 31/2025/TLPT-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp con chung, tài sản chung và nợ chung khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 09/2025/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 657/2025/QĐ-PT ngày 04-12-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 451/2025/QĐ-PT ngày 19-12-2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 482/2025/QĐ-PT ngày 29-12-2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Di Văn T; địa chỉ: Thôn B, xã N, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Huy H – Luật sư thuộc Công ty L2 và Cộng sự; địa chỉ: Số B, đường Y, phường E, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
- Bị đơn: Chị Vương Thu T1; địa chỉ: Số H Y, xã C, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị L; địa chỉ: Bon U, xã C, tỉnh Lâm Đồng – Văn bản ủy quyền ngày 30-7-2024 - Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Chị Di Thị Mai L1; địa chỉ: Số B, ngõ E V, phường T, thành phố Hà Nội – Vắng mặt.
- 3.2. Anh Di Văn T2, bà Trương Thị T3; cùng địa chỉ: Tiểu khu phố N, xã N, tỉnh Thái Nguyên – Vắng mặt.
- 3.3. Anh Mai Quốc Đ; địa chỉ: Bon U, xã C, tỉnh Lâm Đồng - Có mặt.
- 3.4. Anh Vương Quốc Bảo T4; địa chỉ: Thôn A, xã N, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.
- 3.5. Ngân hàng C1
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn T5; chức vụ: Cán bộ Ngân hàng C1 – Phòng G3 – Văn bản ủy quyền ngày 02-6-2025 - Đề nghị xét xử vắng mặt.
- 3.6. Ngân hàng N (A2)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Hoàng G; chức vụ: Giám đốc A2 – Chi nhánh C2 – Đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Di Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 05-6-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Di Văn T trình bày: Anh T và chị T1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2011, đến năm 2013 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C (cũ). Thời gian đầu vợ chồng anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc, sau vài năm thì phát sinh mâu thuẫn do chị T1 đam mê cờ bạc, bỏ nhà đi không về. Hai người đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Xét mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị T1.
- Về con chung: Anh T và chị T1 có 02 con chung là: Di Vương Mai A, sinh năm 2013 và Di Vương Thu G1, sinh năm 2014. Anh T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Mai A; giao con chung Thu G1 cho chị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với yêu cầu phản tố về việc chia tài sản chung và nợ chung của chị T1: Anh T thừa nhận các tài sản chung và nợ chung:
+ Đối với thửa đất với diện tích 180m², đất tọa lạc tại bon U, xã C, tỉnh Lâm Đồng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Anh T và chị T1 thỏa thuận thửa đất có giá trị 300.000.000 đồng. Anh T đồng ý cho chị T1 quản lý, sử dụng thửa đất và phải thanh toán lại cho anh T 150.000.000 đồng.
+ Đối với số tiền bán nhà tại số B C, thị trấn E, huyện C được 1.500.000.000 đồng thì đã thanh toán nợ ngân hàng 630.000.000 đồng, trả nợ cho mẹ (bà Trương Thị T3) 300.000.000 đồng, em trai (Di Văn T2) 100.000.000đ; em gái (Di Thị Mai L1) 200.000.000 đồng, chuyển khoản cho chị T1 50.000.000 đồng và đưa tiền mặt cho chị T1 200.000.000 đồng nên không đồng ý thanh toán cho chị T1 số tiền 392.500.000 đồng theo yêu cầu của chị T1.
+ Về nợ chung anh T đồng ý trả A2 khoản nợ 170.000.000 đồng (vay lương) và 30.000.000 đồng (vay thấu chi) và chị T1 trả Ngân hàng C1 – Phòng G3 khoản nợ 56.000.000 đồng.
2. Bị đơn chị Vương Thu T1 trình bày:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh T không quan tâm đến vợ con, hiện tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên chị đồng ý ly hôn với anh T.
2.2. Về con chung: Đồng ý với yêu cầu của anh T.
2.3. Về tài sản chung: Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 29-7-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, chị T1 yêu cầu cụ thể:
- Năm 2024 anh T và chị T1 bán căn nhà tại số B C, thị trấn E, huyện C được 1.500.000.000 đồng. Số tiền này anh chị trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh Đ1 640.000.000 đồng (tiền gốc, lãi và phí phát sinh); trả cho anh Mai Quốc Đ 25.000.000 đồng (tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn nợ), cho anh Vương Quốc Bảo T4 vay số tiền 50.000.000 đồng nên số tiền còn lại sau khi bán nhà là 785.000.000 đồng anh T đang giữ nên chị T1 yêu cầu Tòa án buộc anh T phải chia cho chị ½ số tiền trên là 392.500.000 đồng.
- Đối với thửa đất với diện tích 180m², đất tọa lạc tại bon U, xã C, tỉnh Lâm Đồng chưa được cấp GCNQSDĐ. Anh T và chị T1 thỏa thuận thửa đất có giá trị 300.000.000 đồng, do chị T1 hiện chưa có nhà ở nên có nguyện vọng được nhận thửa đất này và thanh toán lại cho anh T 150.000.000 đồng.
Về nợ chung: Hai vợ chồng có nợ Ngân hàng C1 – phòng G3 với số nợ gốc là 56.000.000 đồng, nợ Ngân hàng N – Chi nhánh C2 số tiền 170.000.000 đồng. Nay chị T1 đề nghị được trả ngân hàng số tiền 56.000.000 đồng; anh T trả ngân hàng số tiền 170.000.000 đồng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
3.1. Anh Vương Quốc Bảo T4: Năm 2021 vợ chồng anh T và chị T1 có nhờ anh đứng tên quyền sử dụng tại căn nhà số S đường C, thị trấn E, huyện C (cũ) và đứng tên vay ngân hàng TMCP Q với số tiền khoảng 600.000.000 đồng. Đến năm 2024 vợ chồng anh T và chị T1 bán căn nhà trên với giá 1.500.000.000 đồng và đã thanh toán tiền vay Ngân hàng. Ngoài ra, anh có vay của vợ chồng anh T và chị T1 số tiền 50.000.000 đồng nhưng đã thanh toán xong, cụ thể: Anh chuyển khoản cho chị T1 15.000.000 đồng, đưa tiền mặt cho chị T1 10.000.000 đồng và chuyển khoản cho anh T 25.000.000 đồng.
3.2. Bà Trương Thị T3: Bà T3 là mẹ đẻ của anh Di Văn T, vào các năm 2008, 2010, 2011, 2013, 2014, 2017 và 2019 bà T3 nhiều lần gửi tiền vào cho anh T và chị T1 vay để làm ăn (có lần chuyển khoản, có lần đưa tiền mặt). Tổng số tiền khoảng 300.000.000 đồng. Anh T đã thanh toán nợ cho bà T3.
3.3. Anh Di Văn T2: Năm 2023 vợ chồng anh T và chị T1 có vay của anh T2 số tiền 100.000.000 đồng, số tiền trên anh T2 giao cho anh T, việc vay mượn không có giấy tờ gì và anh T đã trả xong.
3.4. Chị Di Thị Mai L1: Vào khoảng năm 2013 chị L1 có cho vợ chồng anh T và chị T1 vay số tiền 200.000.000 đồng, chị L1 đưa cho anh Di Văn T2 (em trai chị L1) để anh T2 đem vào đưa cho anh T và chị T1. Việc vay mượn không lập giấy tờ. Anh T và chị T1 đã trả nợ xong.
3.5. Ngân hàng C1 – phòng G3: Ngày 16-5-2020, anh T và chị T1 vay của Ngân hàng số tiền 40.000.000 đồng; ngày 18-01-2021 anh T và chị T1 vay Ngân hàng số tiền 20.000.000 đồng (Tổng là 60.000.000 đồng). Anh T và chị T1 đã thanh toán được 4.000.000 đồng nợ gốc, còn lại 56.000.000 đồng. Tính đến ngày 14-8-2025 thì tổng số tiền mà anh T và chị T1 còn nợ Ngân hàng là 57.290.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng đồng ý việc chị T1 sẽ có nghĩa vụ thanh toán số nợ trên đối với ngân hàng.
3.6. Ngân hàng N – Chi nhánh C2: Ngày 06-11-2023 anh Di Văn T vay A2 – Chi nhánh C2 số tiền 170.000.000 đồng (hình thức trả theo lương) và thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 10, tờ bản đồ số 86, diện tích 3.317m², tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Nông (nay là xã N, tỉnh Lâm Đồng). Anh T đã thanh toán được 94.400.000 đồng, còn nợ gốc là 75.600.000 đồng. Hiện tại anh T vẫn thanh toán nợ cho Ngân hàng, không vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngân hàng không có yêu cầu gì.
4. Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 09/2025/HNGĐ-ST ngày 13-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng đã căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 235; Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 57; Điều 59; Điều 62; Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Di Văn T và chị Vương Thu T1 thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung Di Vương Mai A, sinh năm 2013 cho anh Di Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Giao con chung Di Vương Hương G2, sinh năm 2014 cho chị Vương Thu T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- Về tài sản chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể:
+ Tạm giao cho chị Vương Thu T1 được quản lý và sử dụng thửa đất theo mảnh trích đo địa chính số 376 – 2024, tờ bản đồ số 35 (nghiệm thu năm 2019) có diện tích 170,2 m², tọa lạc tại bon U, xã C, tỉnh Lâm Đồng. Chị Vương Thu T1 có nghĩa vụ thanh toán cho anh Di Văn T 150.000.000 đồng là giá trị phần tài sản anh T được nhận.
+ Anh Di Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho chị Vương Thu T1 số tiền 392.500.000 đồng.
- Về nợ chung: Chị Vương Thu T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng C1 – phòng G3 số tiền 57.290.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
5. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28-8-2025, nguyên đơn anh Di Văn T kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm về phần chia tài sản chung và nợ chung, sửa bản án sơ thẩm theo nội dung thỏa thuận phân chia tài sản và nợ chung trước khi ly hôn của anh T và chị T1 tại Biên bản thỏa thuận ngày 20-01-2024.
6. Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Do anh T cung cấp chứng cứ mới nên giữa anh T và bị đơn chị T1 thống nhất đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần Bản án sơ thẩm về phần chia tài sản chung và nợ chung để các bên đương sự có thời gian cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ và xác minh làm rõ các tài liệu do anh T cung cấp.
7. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 09/2025/HNGĐ-ST ngày 13-8-2025 về phần tài sản chung và nợ chung; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn anh Di Văn T nộp trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của anh Di Văn T về việc phân chia tài sản chung và nợ chung, Hội đồng xét xử nhận định:
[2.1]. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, giữa anh T và chị T1 không thỏa thuận được về việc phân chia tài sản chung, cụ thể: Anh T không đồng ý thanh toán cho chị T1 số tiền 392.500.000 đồng theo yêu cầu phản tố. Tuy nhiên, phần Quyết định của bản án sơ thẩm tuyên công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc phân chia tài sản chung nội dung anh T có nghĩa vụ thanh toán cho chị T1 số tiền 392.500.000 đồng là không phù hợp với nhận định của Bản án sơ thẩm.
[2.2]. Sau khi xét xử sơ thẩm, anh Di Văn T kháng cáo và cung cấp bổ sung 02 chứng cứ mới, cụ thể: “Biên bản thỏa thuận về việc phân chia tài sản và tiền và nợ trước khi ly hôn” đề ngày 20-01-2024 giữa anh T và chị T1 và “Biên bản thoả thuận về việc chuyển nhượng đất” đề ngày 10-12-2023 giữa anh T, chị Thủy với bên nhận chuyển nhượng là anh Nông Thế A1, nội dung ghi nhận: Tổng tài sản hiện có là 1.800.000.000 đồng (chuyển nhượng thửa đất số 29 C, thị trấn Ea T’ling được 1.500.000.000 đồng và chuyển nhượng cho anh Nông Thế A1 thửa đất tại bon U, thị trấn E được 300.000.000 đồng), đã trả Ngân hàng Q – Chi nhánh Đ2 625.000.000 đồng, còn lại 1.175.000.000 đồng chia cho anh T 400.000.000 đồng và đưa tiền mặt cho chị T1 số tiền 775.000.000 đồng, chị T1 không được yêu cầu gì thêm. Đồng thời, thỏa thuận chị T1 phải trả khoản nợ 170.000.000 đồng cho A2 chi nhánh C2. Đối với 02 chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[2.2.1]. Tại giai đoạn phúc thẩm, anh T trình bày lý do sau khi bản án sơ thẩm mới giao nộp chứng cứ “Biên bản thỏa thuận về việc phân chia tài sản và tiền và nợ trước khi ly hôn” đề ngày 20-01-2024, là do bị thất lạc, kẹp nhầm vào hồ sơ công chức của anh T; sau khi đưa cho chị T1 bằng tiền mặt 775.000.000 đồng thì chị T1 có đưa lại tiền mặt cho anh T số tiền 575.000.000 đồng để trả nợ (cho mẹ là bà Trương Thị T3 350.000.000 đồng, em trai Di Văn T2 200.000.000 đồng và anh Mai Quốc Đ 25.000.000 đồng). Do vậy, tại cấp sơ thẩm anh T mới trình bày là đưa tiền mặt cho chị T1 200.000.000 đồng và không trình bày về “Biên bản thỏa thuận về việc phân chia tài sản và tiền và nợ trước khi ly hôn” đề ngày 20-01-2024, do giấy này đã bị thất lạc và không am hiểu pháp luật. Đối với “Biên bản thoả thuận về việc chuyển nhượng đất” đề ngày 10-12-2023 do anh Nông Thế A1 giữ nhưng không liên hệ được, sau khi xét xử sơ thẩm mới liên hệ, xin được từ anh Thế A1 để cung cấp cho Toà án.
[2.2.2]. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 03-12-2025 chị Vương Thu T1 thừa nhận chữ ký, chữ viết trong “Biên bản thỏa thuận về việc phân chia tài sản và tiền và nợ trước khi ly hôn” đề ngày 20-01-2024 nêu trên là của chị T1 nhưng do bị anh T lừa nên mới ký nhận. Sau ngày 20-01-2024 chị có làm đơn tố cáo; tại Công an huyện C, anh T đã thừa nhận “Biên bản thỏa thuận về việc phân chia tài sản và tiền và nợ trước khi ly hôn” đề ngày 20-01-2024 nêu trên không có thật, tuy nhiên, do việc sáp nhập tỉnh và xã nên chị chưa cung cấp được chứng cứ chứng minh cho Tòa án. Đồng thời, chị T1 có thừa nhận nợ mẹ anh T (Bà Trương Thị T3) nhưng số tiền chỉ khoảng 70.000.000 đồng và đã trả xong cho bà T3 vào tết năm 2024 (Sau khi bán nhà đất).
[2.2.3]. Lời khai của anh Nông Thế A1 trình bày: Ngày 10-12-2023 anh cùng vợ chồng anh T và anh Mai Quốc Đ (người chuyển nhượng đất cho vợ chồng anh T) đã thoả thuận anh Thế A1 nhận chuyển nhượng thửa đất tại bon U, thị trấn E của vợ chồng anh T với giá 300.000.000đ, do trên bản đồ địa chính đứng tên anh Đ nên anh Đ ký xác nhận để hợp thức việc cấp GCNQSDĐ.
[2.2.4]. Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại giai đoạn phúc thẩm, anh T cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ mới, có nội dung quan trọng, ảnh hưởng đến quyết định phân chia tài sản chung giữa anh T và chị T1. Đồng thời, giữa nguyên đơn anh T và bị đơn chị T1 thống nhất đề nghị hủy một phần Bản án sơ thẩm về phần chia tài sản chung và nợ chung để có thời gian cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ và xác minh làm rõ các tài liệu do anh T cung cấp. Đây là tình tiết mới phát sinh mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể khắc phục được. Mặt khác, cần phải bổ sung anh Nông Thế A1 là người nhận chuyển nhượng thửa đất tại bon U, thị trấn E của anh T và chị T1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh Thế A1. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận ý kiến của anh T và chị T1, hủy một phần Bản án sơ thẩm về phần chia tài sản chung và nợ chung và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.
[2.4]. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[3]. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4]. Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy một phần nên anh Di Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho anh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308; Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Hủy một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 09/2025/HNGĐ-ST ngày 13-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng về phần chia tài sản chung và nợ chung. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.
- Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí phúc thẩm: Anh Di Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho anh Di Văn T số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0002841 ngày 03-9-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TANDTC (Vụ II); - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - TAND khu vực 9- Lâm Đồng; - Phòng THADS khu vực 9 – Lâm Đồng; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, TDS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Anh Ửng |
Bản án số 03/2026/HNGĐ-PT ngày 23/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung và nợ chung
- Số bản án: 03/2026/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung và nợ chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hủy bản án sơ thẩm
