TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày 17 tháng 11 năm 2025 V/v tranh chấp xác định cha cho con | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tráng A Tếnh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Sơ và ông Cầm Văn Tổ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.
- -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp xác định cha cho con. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Y, sinh ngày 01/02/2004. Số căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/10/2022. Địa chỉ: Thôn N, xã B, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lò Văn L, sinh ngày 10/10/2003. Số căn cước công dân số 00000000007 do Bộ C1 cấp ngày 26/8/2025. Địa chỉ: Bản B, xã C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nguyên đơn chị Đặng Thị Y trình bày như sau:
Năm 2022, chị có quen biết và tìm hiểu anh Lò Văn L. Sau thời gian quen nhau, anh chị về chung sống tại nhà anh L tại bản B, xã C, tỉnh Sơn La như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn do chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống, anh chị có 01 con chung là cháu Đặng Gia H, sinh ngày 13/01/2023. Chị đã đi đăng ký khai sinh cho cháu Đặng Gia H tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 11/3/2024 nhưng chỉ có tên mẹ là Đặng Thị Y, không có tên cha trong giấy khai sinh.
Trong thời gian chung sống, chị và anh L có xảy ra mâu thuẫn về tình cảm nên đã chia tay nhau. Hiện nay chị đang sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ ở Tuyên Quang, anh L ở Sơn La và đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Gia H.
Do anh chị chưa đăng ký kết hôn nên cháu H chưa đăng ký tên cha trong giấy khai sinh, điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của cháu. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án xác định cháu Đặng Gia H, sinh ngày 13/01/2023 theo Giấy khai sinh số 08/2024 do UBND xã T, huyện L, tỉnh T cấp ngày 11/3/2024 (số định danh cá nhân 000000000000) là con đẻ của anh Lò Văn L, sinh năm 2003, số căn cước công dân số 0100000000 do Bộ C1 cấp ngày 26/08/2025. Địa chỉ: Bản B, xã C, tỉnh Sơn La.
Tại bản tự khai tại Tòa án và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lò Văn L trình bày:
Anh và chị Đặng Thị Y yêu nhau và chung sống với nhau như vợ chồng tại nhà bố mẹ đẻ anh ở Bản B, xã C, tỉnh Sơn La. Trong thời gian chung sống, anh chị có 01 con chung là cháu Đặng Gia H, sinh ngày 13/01/2023 theo Giấy khai sinh số 08/2024 do UBND xã T, huyện L, tỉnh T cấp ngày 11/3/2024. Thời điểm sinh cháu H, anh chị chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nên chị Y đi đăng ký khai sinh cho cháu H không có tên cha.
Trong thời gian chung sống, do hoàn cảnh gia đình, anh chị đi làm ăn xa và nảy sinh mâu thuẫn nên không thể tiếp tục chung sống. Chị Y đã về Tuyên Quang sinh sống, anh tiếp tục ở Sơn La và nuôi dưỡng cháu H. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án xác định cháu H là con đẻ của anh và không có yêu cầu gì khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đề nghị Tòa án không hòa giải và giải quyết vắng mặt, đây thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 89, Điều 91, 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm b khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Y, xác định Đặng Gia H, sinh ngày 13/01/2023 theo Giấy khai sinh số 08/2024 do UBND xã T, huyện L, tỉnh T cấp ngày 11/3/2024 là con đẻ của anh Lò Văn L.
Về án phí: Chị Đặng Thị Y được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
Chị Đặng Thị Y có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cháu Đặng Gia H, sinh ngày 13/01/2023 theo Giấy khai sinh số 08/2024 do UBND xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 11/3/2024 là con đẻ của anh Lò Văn L. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án tranh chấp xác định cha cho con theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lò Văn L có địa chỉ tại Bản B, xã C, tỉnh Sơn La nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án.
Trước phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với các đương sự, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về yêu cầu xác định cha cho con:
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Đặng Thị Y, anh Lò Văn L thống nhất xác nhận: Trong thời gian yêu đương tìm hiểu, chị Đặng Thị Y và anh Lò Văn Lâm C sống như vợ chồng tại nhà anh L và có 01 con chung là cháu Đặng Gia H, sinh ngày 13/01/2023 theo Giấy khai sinh số 08/2024 do UBND xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 11/3/2024. Thời điểm sinh cháu Gia H, chị Y và anh L chưa đăng ký kết hôn nên chị Y đi đăng ký khai sinh không có tên cha trên giấy khai sinh. Tuy nhiên, chị Y và anh L có mâu thuẫn về tình cảm nên anh chị chia tay, không đăng ký kết hôn. Nay anh chị thông nhất đề nghị Tòa án xác định cháu Đặng Gia H là con đẻ của anh Lò Văn L.
Tại Kết quả xét nghiệm ADN số KQ 201012425 ngày 16/10/2025 của Công ty TNHH D (theo Quyết định trưng cầu giám định số 01/2025/Quyết định-TCGĐ ngày 14/10/2025 của Tòa án) kết luận: “Người có mẫu ghi tên Lò Văn L có quan hệ huyết thống cha – con với người có mâu ghi tên Đặng Gia Hữu với độ tin cậy 99,999999%".
Tại phiên tòa, đại diện kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Lò Văn L là cha đẻ của cháu Đặng Gia H.
Hội đồng xét xử xét thấy, ý kiến thống nhất của các đương sự phù hợp với kết quả xét nghiệm ADN, từ đó có đủ cơ sở xác định anh Lò Văn L là cha đẻ của cháu Đặng Gia H, sinh ngày 13/01/2023 theo Giấy khai sinh số 08/2024 do UBND xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 11/3/2024. Căn cứ khoản 2 Điều 89, Điều 91, 101 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Chị Đặng Thị Y và anh Lò Văn L được quyền thay đổi hộ tịch cho cháu Đặng Gia H theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí:
Chị Đặng Thị Y yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên, thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định nên cần miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 227, Điều 238, khoản 1 Điều 228, các Điều 147, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án.
- Khoản 2 Điều 89, Điều 91, 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Y. Xác định anh Lò Văn L là cha đẻ của cháu Đặng Gia H, sinh ngày 13/01/2023 theo Giấy khai sinh số 08/2024 do UBND xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 11/3/2024 (Căn cước công dân số [...] do Bộ C1 cấp ngày 24/8/2024).
Chị Đặng Thị Y và anh Lò Văn L được quyền thay đổi hộ tịch cho cháu Đặng Gia H theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Đặng Thị Y được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tráng A Tếnh |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 17/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA về tranh chấp xác định cha cho con
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
