|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2026/HNGĐ-ST Ngày: 20/01/2026 V/v: Tranh chấp Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Sinh
- Ông Vũ Xuân Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Huệ – Thư ký viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thuỳ Linh; Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 66/2025/TLST- HNGĐ, ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 09/12/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2025/QÐST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh ngày: 19/8/2005
Địa chỉ: Xóm L, xã L, tỉnh Phú Thọ.
Nơi ở: Xóm Y, xã L, tỉnh Phú Thọ.
Căn cước công dân số: 017305005228; Cấp ngày 15/9/2024
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
+ Bị đơn: Anh Bùi Văn H1, sinh ngày: 12/9/2002
Địa chỉ: Xóm L, xã L, tỉnh Phú Thọ.
Nơi ở: Xóm Y, xã L, tỉnh Phú Thọ.
Căn cước công dân số: 017202006160; Cấp ngày 17/5/2021
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2025 và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị Q trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn H1 tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau và thành hôn vào năm 2023, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/11/2023 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y (cũ). Sau khi kết hôn, chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn H1 về sinh sống tại xóm Y, xã L, huyện Y (nay là xóm Y, xã L, tỉnh Phú Thọ), thời gian đầu sống chung với nhau hạnh phúc, đến tháng 6/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên vợ chồng bất hòa thường xuyên cãi nhau làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hiện cả 02 ly thân nhau từ tháng 8/2025, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm lo lắng cho nhau. Nay chị Bùi Thị H xác định hôn nhân không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu ly hôn với anh Bùi Văn H1.
- Về con chung: Chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn H1 có 01 con chung là Bùi Thị Thanh H2, sinh ngày 14/02/2023, vợ chồng ly hôn chị Bùi Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dạy cháu Bùi Thị Thanh H2 cho đến khi trưởng thành. Chưa yêu cầu anh Bùi Văn H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- Quyền và nghĩa vụ tài sản: Chị Bùi Thị H xác nhận vợ chồng anh, chị không nợ gì của ai và cũng không ai nợ vợ chồng anh, chị, không tranh chấp tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai, Biên bản hòa giải và quá trình tố tụng giải quyết vụ án bị đơn anh Bùi Văn H1 trình bày:
- Về hôn nhân: Anh Bùi Văn H1 và chị Bùi Thị H kết hôn năm 2023 và có đăng ký kết hôn vào ngày 14/11/2023 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y (cũ), hai bên tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, không ai ép buộc, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu sau đó đến tháng 8/2025 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sau đó chị H đi làm công nhân xa nhà không quan tâm đến gia đình, hiện tại đã sống ly thân từ tháng 8/2025 cho đến nay, bản thân anh thấy mình cũng có lỗi tuy nhiên kể từ thời điểm chị H làm đơn xin ly hôn anh đã thay đổi và quan tâm đến gia đình nhiều hơn, nay anh thấy tình càm vợ chồng vẫn còn vì vậy không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh cùng chị Bùi Thị H có 01 con chung là Bùi Thị Thanh H2, sinh ngày 14/02/2023 hiện cháu đang sống cùng anh và bà nội, trường hợp vợ chồng không hoà giải đoàn tụ được anh nhất trí giao cháu Bùi Thị Thanh H2 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục, anh chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết, nợ chung: Không có nợ chung.
Xác minh bà Bùi Thị H3 là mẹ đẻ anh Bùi Văn H1, bà H3 cho biết:
Bà là mẹ đẻ anh Bùi Văn H1 và mẹ chồng chị H hai vợ chồng anh chị sống cùng bà, quá trình chung sống thì chị H và anh H1 có những mâu thuẫn nhỏ do hai con còn trẻ tuổi, đến tháng 8/2025 thì chị H đi làm công nhân tại tỉnh Hà Nam, thực tế nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng ghen tuông, suy nghĩ chưa trưởng thành lại ở xa nhau nên ít nói chuyện, việc anh H1 và chị H mâu thuẫn gia đình cũng đã cố gắng hoà giải nhưng không được, nay chị H làm đơn xin ly hôn bà đề nghị Toà án hoà giải cho các cháu, trường hợp không hoà giải được đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. (BL25)
Xác minh Trưởng xóm Y ông Bùi Văn H4 cho biết: Ông sống gần nhà anh H1 và chị H, hai vợ chồng chung sống với nhau từ năm 2023 và có 01 con chung với nhau, quá trình chung sống anh H1 làm nghề lái xe thỉnh thoảng mới về nhà còn chị H làm công nhân tại tỉnh Hà Nam từ tháng 8/2025 đến nay không thấy về, về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh H1, chị H ông không nắm rõ, địa phương cũng chưa nhận được yêu cầu hoà giải từ vợ chồng anh chị. (BL31)
Ngày 29/12/2025 vụ án được đưa ra xét xử, nguyên đơn chị Bùi Thị H có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Bùi Văn H1 vắng mặt nên phiên tòa phải hoãn lần thứ nhất. Hôm nay bị đơn anh Bùi Văn H1 tiếp tục vắng mặt không có lý do, chị Bùi Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Phú Thọ phát biểu ý kiến:
Căn cứ Điều 56, 59, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Bùi Văn H1. Về con chung: Giao cháu Bùi Thị Thanh H2, sinh ngày 14/02/2023 (hiện cháu đang ở bà nội Bùi Thị H3) cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc có thay đổi khác, anh Bùi Văn H1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Bùi Thị H; Về tài sản chung và nợ chung: Không có; Chị Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng dân sự:
Chị Bùi Thị H khởi kiện xin ly hôn với anh Bùi Văn H1. Hiện anh Bùi Văn H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Xóm L, xã L, tỉnh Phú Thọ và có nơi ở tại xóm Y, xã L. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Phú Thọ
Tòa án đã tiến hành hòa giải để các bên đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng các bên không thống nhất được về việc giải quyết vụ án. Ngày 27 tháng 11 năm 2025 chị Bùi Thị H có Đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và yêu cầu Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.
Tòa án đã tiến hành triệu tập, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn, đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương nơi đương sự cư trú để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Về sự có mặt của đương sự, Tòa án đã triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ 1 nhưng anh Bùi Văn H1 vắng mặt không có lý do, tại phiên tòa hôm nay anh Bùi Văn H1 tiếp tục vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2, đối với chị Bùi Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn H1 tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau, không ai ép buộc, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/11/2023 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y (C). Sau khi kết hôn, chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn H1 sống chung với nhau hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên vợ chồng bất hòa làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến cả 02 ly thân nhau từ tháng 8/2025 cho đến nay, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm lo lắng cho nhau. Căn cứ vào lời khai của đương sự và kết quả xác minh thấy rằng: Từ tháng 8/2025 cho đến nay, chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn H1 đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, mỗi người tự sống cuộc sống riêng của mình. Quá trình giải quyết vụ án, thấy rằng đời sống chung của vợ chồng đã chấm dứt trên thực tế, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững, vợ chồng yêu thương, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn H1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, việc tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân chỉ làm phát sinh thêm căng thẳng, không mang lại hạnh phúc cho các bên. Do đó, có đủ căn cứ xác định hôn nhân của các đương sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị H, cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Bùi Văn H1 là phù hợp với quy định của pháp luật và thực tế quan hệ hôn nhân giữa các đương sự.
[3] Về con chung:
Quá trình chung sống chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn H1 có 01 con chung là cháu Bùi Thị Thanh H2, sinh ngày 14/02/2023. Xét yêu cầu của chị Bùi Thị H về việc được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn H1 có 01 con chung là Bùi Thị Thanh H2, sinh ngày 14/02/2023. Tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án, cháu H2 còn rất nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi, đang trong giai đoạn cần sự chăm sóc trực tiếp, thường xuyên và ổn định của người mẹ để bảo đảm sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Thanh H2 cho đến khi cháu trưởng thành. Xét thấy, hiện không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện chị H không đủ điều kiện về sức khỏe, đạo đức, thời gian, kinh tế hoặc môi trường sống để trực tiếp nuôi con. Mặt khác, việc để cháu Thanh H2 được sống cùng mẹ là phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, bảo đảm sự ổn định trong sinh hoạt và đời sống của cháu đồng thời anh H1 cũng có ý kiến trong trường hợp vợ chồng ly hôn anh đồng ý giao cháu Thanh H2 cho chị H trực tiếp chăm sóc giáo dục.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị H, giao cháu Bùi Thị Thanh H2 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành hoặc có thay đổi khác.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị H chưa yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét; các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng khi có căn cứ theo quy định của pháp luật.
[4]Về tài sản chung và nợ chung:
Đương sự khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5]Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[6]Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227, Điều 228, Điều 212, Điều 213, Điều 235 và Điều 246, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, điều 57, điều 81, điều 82, điều 83, điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Bùi Văn H1.
- Về con chung:
+ Giao cháu Bùi Thị Thanh H2, sinh ngày 14/02/2023 cho chị Bùi Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác của Tòa án theo quy định của pháp luật. Anh Bùi Văn H1 chưa phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Bùi Thị H.
Quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung: Anh Bùi Văn H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở; việc thăm nom phải bảo đảm không làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con chung của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của người không trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo biên lai số 0002765, ngày 06/10/2025. Xác nhận chị Bùi Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Trung N |
Bản án số 02/2026/HNGĐ-ST ngày 20/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – PHÚ THỌ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 02/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi THị H + Bùi Văn H1 tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
