TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2026/DS-PT
Ngày: 12-01-2026
“V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Thư
Các Thẩm phán: Ông Trần Khắc Hoàng
Ông Hồ Đức Quang
Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXX-PT ngày 25/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2025/QĐ-PT ngày 08/12/2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 60/TB-TA ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T; sinh năm 1964; CCCD số: [...]; địa chỉ: số A, đường P, phường T, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Vân A, sinh năm 1998; CCCD số: [...]; địa chỉ: số E đường T, phường T, tỉnh Hà Tĩnh. (theo văn bản ủy quyền số 899, quyển số 01/2023-SCT/CK, ĐC ngày 17/7/2023). (có mặt)
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1960, CCCD số: [...]; địa chỉ: Số nhà E, ngõ A đường L, phường T, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hoài N, sinh năm: 1987; CCCD số [...]; địa chỉ: Số nhà E, ngõ A đường L, phường T, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Văn H: ông Nguyễn Anh Đ, sinh năm 2000; CCCD số: [...]; địa chỉ: khối V, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (nay là phường T, tỉnh Nghệ An) và ông Phạm Thế H1, sinh năm 1991; CCCD số: [...]; Địa chỉ: khối V, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An (nay là phường T, tỉnh Nghệ An). (Theo văn bản ủy quyền số 2959, quyển số 01/2025-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/4/2025) (có mặt ông Nguyễn Anh Đ, vắng mặt ông Phạm Thế H1)
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Hoài N: ông Nguyễn Anh Đ, sinh năm 2000; CCCD số: [...]; địa chỉ: khối V, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (nay là phường T, tỉnh Nghệ An) và ông Phạm Thế H1, sinh năm 1991; CCCD số: [...]; Địa chỉ: khối V, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (nay là phường T, tỉnh Nghệ An) và bà Phạm Thị M, sinh năm 1998; CCCD số [...]; địa chỉ: khối V, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (nay là phường T, tỉnh Nghệ An). (theo văn bản ủy quyền số 19/2025/CTCK, Quyển số 01/CT-SCC/CTCK ngày 20/01/2025) (có mặt ông Nguyễn Anh Đ, vắng mặt ông Phạm Thế H1 và bà Phạm Thị M)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Vân A trình bày:
Ngày 19/7/2015, bà Nguyễn Thị T có cho ông Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Hoài N vay số tiền 1.900.000.000 đồng, thời hạn vay không quy định; lãi suất: theo lãi suất ngân hàng N2 quy định; Thời gian người vay trả lãi và hai mươi triệu đồng tiền gốc vào ngày 24 hàng tháng, thể hiện qua giấy vay tiền do ông H lập, ký tên và anh N ký tên. Tính từ thời điểm vay tiền đến nay đã 10 năm, sau nhiều lần liên hệ với ông H và anh N để đòi số tiền vay trên. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay ông Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Hoài N vẫn chưa trả cho bà T khoản tiền vay trên kể cả gốc và lãi. Nhận thấy hành vi vi phạm trên của ông H, anh N đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Vì vậy, bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Hoài N phải trả lại số tiền gốc là 1.900.000.000 đồng và lãi phát sinh từ thời điểm vay cho đến ngày khởi kiện là 1.504.166.000 đồng.
Tuy nhiên, tại đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Vân A đều xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần yêu cầu tính tiền lãi số tiền 1.504.166.000 đồng. Chỉ yêu cầu ông Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Hoài N phải trả lại khoản tiền gốc là 1.900.000.000 đồng.
Theo bà Nguyễn Thị T và người đại diện theo ủy quyền bà Trần Thị Vân A thì khi vay tiền của bà T để làm tin, ông Nguyễn Văn H có gửi lại cho bà Nguyễn Thị T 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 602741, mang tên bà Nguyễn Thị S (mẹ ông Nguyễn Văn H). Bà T xin được nộp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho Tòa án để trả lại cho ông Nguyễn Văn H.
Tại bản tự khai, quá trình hòa giải và giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn H và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Khoảng năm 2011, ông Nguyễn Văn H có vay của bà Nguyễn Thị T số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận miệng với nhau, không lập giấy vay. Ông H đã nhận đủ 300.000.000 đồng. Thời gian đầu ông H thanh toán lãi đầy đủ, trả trực tiếp bằng tiền mặt, không lập giấy biên nhận tiền nên không có tài liệu, giấy tờ gì để cung cấp cho Tòa án. Hành vi trên của bà Nguyễn Thị T có dấu hiệu của việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Sau một thời gian, ông H không có khả năng trả nữa. Cứ đến hạn thì ông H và bà T lập giấy vay tiền mới với số tiền vay gồm: nợ gốc cũ gộp với số lãi phát sinh. Theo đó ngày 19/7/2015, ông H viết lại giấy vay tiền bà T ghi nhận nợ 1.900.000.000 đồng, con trai của ông H - anh Nguyễn Hoài N chứng kiến và ký tên vào giấy vay này. Anh Nguyễn Hoài N rời đi về trước thì bà T ép ông H ghi thêm “và Nguyễn Hoài N” vào ngay sau “Tên tôi là: Nguyễn Văn H” tại dòng chữ thứ 4 từ trên xuống tại giấy vay này. Việc bà T ép ông H viết tên anh N vào phần người vay tiền thì cũng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh. Tại Giấy vay tiền ngày 19/7/2015, chữ viết trên giấy là của ông H viết; chữ ký dưới phần người vay là của ông H và anh N ký, viết. Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, phía bị đơn không chấp nhận. Bị đơn chỉ đồng ý trả 300.000.000 đồng.
Về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị S (là mẹ đẻ của ông Nguyễn Văn H), hiện nay phía nguyên đơn đang cầm giữ, bị đơn bà T đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên cho ông H. Ông H đồng ý được nhận lại. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giải thích và hướng dẫn ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N cần cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu của mình nhưng ông H, anh N không có tài liệu, chứng cứ gì để cung cấp cho Tòa án.
Tại bản tự khai, quá trình hòa giải và giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Hoài N và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Ngày 19/7/2015, bố anh N là ông Nguyễn Văn H có nhờ anh N đưa đến nhà bà Nguyễn Thị Tuyết . Tại đây ông H viết lại giấy vay tiền bà T ghi nhận nợ 1.900.000.000 đồng, anh Nguyễn Hoài N chứng kiến và ký tên vào giấy vay. Sau đó, anh N đi về trước, việc ông H ghi thêm “và Nguyễn Hoài N” vào ngay sau “Tên tôi là: Nguyễn Văn H” tại dòng chữ thứ 4 từ trên xuống tại giấy vay thì anh N hoàn toàn không biết. Đối với yêu cầu của bà T thì anh N không chấp nhận vì anh không vay tiền của bà T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, Hà Tĩnh:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, khoản 1, 4 Điều 91, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Khoản 2, 3 Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 471, Điều 476 của Bộ luật dân sự 2005; Điều 466, Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị T; bị đơn ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N; người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn ông Phạm Thế H1, ông Nguyễn Anh Đ và bà Phạm Thị M.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, buộc ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền nợ gốc là 1.900.000.000 đồng.
Kể từ ngày bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N không thi hành được, thì hàng tháng ông H, anh N còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc buộc ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền lãi là 1.504.166.000 đồng.
- Trả lại cho ông Nguyễn Văn H 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 602741, do Ủy ban nhân dân thị xã H cấp ngày 12 tháng 11 năm 1998 mang tên Nguyễn Thị S. Ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm liên hệ với Thư ký Tòa án để nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự và thi hành án theo quy định.
Ngày 27/8/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Hoài N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết .
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, Hà Tĩnh về phần án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự.
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Xét đơn kháng cáo của bị đơn: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Hoài N trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án, tư cách những người tham gia tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, có mặt người đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thị Vân A; vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Hoài N, có mặt người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Anh Đ. Xét thấy phía nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, tại phiên tòa có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Hoài N, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
2.1. Về nội dung giấy vay tiền đề ngày 19/7/2015 giữa ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N với bà Nguyễn Thị Tuyết .
Tại giấy vay tiền đề ngày 19/7/2015 thể hiện: người vay tiền là ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N, bên cho vay là bà Nguyễn Thị T; số tiền vay 1.900.000.000 đồng; thời hạn vay không quy định; lãi suất theo lãi suất ngân hàng N2 quy định; thời hạn trả: thì hàng tháng người vay trả lãi và 20 triệu tiền gốc vào ngày 24 hàng tháng. Ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N và bà Nguyễn Thị T đều thừa nhận có lập giấy vay tiền nêu trên và chữ ký, chữ viết trên giấy vay tiền là đúng nên đây là tình tiết không phải chứng minh quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2.2. Xét về khoản tiền vay và quá trình thực hiện khoản nợ giữa các bên.
Ông Nguyễn Văn H cho rằng số tiền gốc khi vay là 300.000.000 đồng vay vào năm 2011. Do ông H không trả được tiền lãi nên bà T mới nhập số tiền lãi phát sinh vào nợ gốc cũ để xác nhận nợ gốc mới rồi lập giấy vay tiền mới. Tuy nhiên, quá trình làm việc ông H không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu trên của ông H là có căn cứ. Lời trình bày của ông H không được bà T thừa nhận, bà T khẳng định số tiền nợ gốc khi vay là 1.900.000.000 đồng, bà T đã cung cấp cho Tòa án được giấy vay tiền gốc xác lập vào ngày 19/7/2015, trong đó ông H, anh N và bà T đều thừa nhận có viết giấy vay tiền nói trên và chữ viết, chữ ký trong giấy vay tiền trên là của ông H, anh N và bà T. Như vậy, có căn cứ để khẳng định số tiền vay gốc ban đầu là 1.900.000.000 đồng, như lời khai của bà T là có căn cứ, phù hợp.
Ông Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Hoài N cho rằng người vay tiền là ông Nguyễn Văn H, còn anh Nguyễn Hoài N chỉ là người chứng kiến, không liên quan đến việc vay tiền của bà T. Tuy nhiên, anh Nguyễn Hoài N là người biết đọc, biết viết, không bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự. Anh N cũng thừa nhận chữ ký, chữ viết tại mục bên vay là của anh N. Như vậy, có căn cứ khẳng định bên vay là ông Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Hoài N là phù hợp.
Ông Nguyễn Văn H cho rằng bà Nguyễn Thị T cho vay tiền với lãi suất 3.000₫/1.000.000đ/ngày là cho vay lãi nặng, vi phạm quy định của pháp luật. Tại giấy vay tiền lập ngày 19/7/2015, về phần lãi suất: quy định theo lãi suất của ngân hàng N2. Hơn nữa, ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N cũng không có tài liệu, chứng cứ gì thể hiện quá trình vay mượn đã trả tiền lãi cho bà T. Bên cạnh đó bà T cho rằng từ khi vay cho đến thời điểm hiện nay, ông H và anh N chưa trả được khoản tiền lãi nào cho bà T. Như vậy, việc ông H cho rằng bà Nguyễn Thị T cho vay lãi nặng, vi phạm quy định của pháp luật là không có căn cứ.
Từ những phân tích trên xác định: ngày 19/7/2015 ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N có vay của bà Nguyễn Thị T số tiền 1.900.000.000 đồng, cho đến thời điểm hiện nay ông Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Hoài N vẫn chưa trả được khoản tiền gốc trên cho bà Nguyễn Thị Tuyết . Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Hoài N phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền nợ gốc là 1.900.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
2.3. Đối với yêu cầu tính lãi: Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu tính lãi trên số tiền gốc nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này là có căn cứ, đúng pháp luật
2.4. Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận quá trình vay, mượn ông Nguyễn Văn H có gửi lại cho bà Nguyễn Thị T một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Nguyễn Thị S. Ông Nguyễn Văn H xin được nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên; nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Vân A đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông H và xin được nộp lại tại Tòa án. Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận nội dung thỏa thuận trên của các bên đương sự tuyên trả lại cho ông Nguyễn Văn H 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 602741, do Ủy ban nhân dân thị xã H cấp ngày 12 tháng 11 năm 1998 mang tên Nguyễn Thị S là phù hợp.
Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, vì vậy kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H, anh Lê Hoài N1 như đã nêu trên là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng quy định pháp luật cần chấp nhận.
[3] Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn H là người cao tuổi, Tòa án sơ thẩm đã hướng dẫn ông H làm đơn xin miễn án phí nhưng ông H không thực hiện nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật.
Ngày 06/01/2026, ông Nguyễn Văn H đã nộp bổ sung đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm cho Tòa án cấp phúc thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì ông H là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên cần sửa một phần bản án sơ thẩm về án phí, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn H. Anh Nguyễn Hoài N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí dân sự phúc thẩm nên cần xét miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn H. Anh Nguyễn Hoài N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N; sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, Hà Tĩnh về phần án phí.
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, khoản 1, 4 Điều 91, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Khoản 2, 3 Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 471, Điều 476 của Bộ luật dân sự 2005; Điều 466, Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, buộc ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền nợ gốc là 1.900.000.000đ (một tỷ chín trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N không thi hành được, thì hàng tháng ông H, anh N còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc buộc ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền lãi là 1.504.166.000 đồng.
- Trả lại cho ông Nguyễn Văn H 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 602741, do Ủy ban nhân dân thị xã H cấp ngày 12 tháng 11 năm 1998 mang tên Nguyễn Thị S. Ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm liên hệ với Thư ký Tòa án để nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn anh Nguyễn Hoài N phải chịu số tiền 34.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, ông Nguyễn Văn H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn anh Nguyễn Hoài N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000084 ngày 10/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Bị đơn ông Nguyễn Văn H được miễn án phí dân sự phúc thẩm, trả lại cho ông Nguyễn Văn H số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000085 ngày 10/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bên được thi hành án dân sự, bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Minh Thư |
Bản án số 02/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 02/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài N; sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, Hà Tĩnh về phần án phí.
