TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2026/LĐ-PT
Ngày 22 - 01 - 2026.
Về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động”
NHÂN DANH
NƯỚCCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thế Phương;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Quang
Ông Trần Nam Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Linda - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2025/TLPT-LĐ ngày 10 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động”.
Do Bản án lao động sơ thẩm số: 05/2025/LĐ-ST ngày 19 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 24/2025/QĐXXPT-DS ngày 12 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số: 01/2026/QĐ-PT ngày 07 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị P, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Xóm D, thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (nay là xã T, tỉnh Bình Định).
Tạm trú: Tòa BS15 khu O, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường L, thành phố Hồ Chí Minh).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thanh T - Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
- Bị đơn: Công ty A.
Địa chỉ: Đường số D, khu công nghiệp N - giai đoạn 2, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai (nay là xã N, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Alexander B - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang T1 – sinh năm 1976.
Địa chỉ: O đường Đ, phường T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
· Nguyên đơn bà Phạm Thị P trình bày:
Bà và Công ty TNHH A có ký hợp đồng lao động số HDLD/2024/VAC3249-2. Đây là hợp đồng lao động có thời hạn từ ngày 04/3/2024 đến ngày 25/3/2025, hợp đồng được đóng dấu Công ty và ký bởi người đại diện là bà Hòa Thị N. Trong hợp đồng quy định công việc của bà là Trưởng bộ phận Kiểm soát chất lượng, mức lương tổng 51.000.000 đồng, trong đó: lương cơ bản 35.700.000 đồng, hỗ trợ đi lại và nhà ở 10.200.000 đồng và KPI là 5.100.000 đồng. Từ tháng 3/2024 đến tháng 6/2024 bà nhận đủ tiền lương 51.000.000 đồng, từ kỳ lương tháng 07/2024 đến khi kết thúc hợp đồng, mỗi tháng chỉ được nhận 45.900.000 đồng. Khi xem bảng lương thì thấy Công ty không thanh toán tiền lương KPI 5.100.000 đồng.
Ngày 16/09/2024 bà đã gửi email cho đại diện Công ty là ông ALEXANDER BEULEKE, ngày 27/09/2024 gửi cho Trưởng phòng nhân sự thông báo về sự việc này, nhưng đều không nhận được phản hồi.
Đến ngày 27/09/2024, trưởng phòng Hành chính Nhân sự họp với bà và trưởng phòng Quản lý chất lượng. Tại cuộc họp, trưởng phòng Hành chính Nhân sự đề xuất Công ty muốn cắt giảm khối lượng công việc và lương của bà nhưng không đưa ra nguyên nhân nào do lỗi của bà vì thế bà không đồng ý. Cũng tại đây bà thông báo tình trạng của mình đang mang thai và vẫn đảm bảo hoàn tốt công việc như bình thường, đồng thời trưởng phòng Hành chính Nhân sự nói sẽ trả lời bằng văn bản về lý do không thanh toán lương KPI cho bà nhưng đến nay không có trả lời.
Sau đó, Công ty tiếp tục gây khó khăn cho công việc của bà, làm giảm hiệu quả công việc bà phụ trách và gây áp lực lên tinh thần mặc dù biết bà đang mang thai. Cụ thể là: Cắt quyền phê duyệt nghỉ phép của bà đối với nhân viên dưới quyền, không cho tham gia vào việc tuyển dụng nhân sự của nhóm trong khi trước đó bà là người trực tiếp phỏng vấn. Đỉnh điểm là ngày 02/12/2024 tài khoản email của bà phuong.pham@action-composites.com.vn và quyền truy cập vào máy tính cá nhân do Công ty C cho bà đều bị khoá mà không có thông báo nào.
Ngày 09/12/2024 và ngày 13/12/2024, bà được sắp xếp tham gia phiên họp với Chủ tịch Công đoàn cơ sở bà Lại Ngọc S và một số lãnh đạo khác. Tuy nhiên, hai cuộc họp này chỉ dừng lại ở việc Công ty ghi nhận ý kiến của bà và đều không đưa ra phương án xử lý thỏa đáng cho bà.
Ngày 02/01/2024, Công ty tiếp tục gây áp lực bằng việc bất ngờ không cho bà làm việc tại chỗ làm việc thường ngày mà bắt sang ngồi phòng họp, không cho làm công việc theo hợp đồng, đồng thời cho người giám sát. Bà không đồng ý với cách hành xử không tôn trọng người lao động của Công ty nên làm đơn đề nghị gửi cho Công ty ngay trong chiều ngày 02/01/2025.
Ngày 07/01/2025, bà được Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N mời lên hòa giải, do không có mặt của Công ty nên hòa giải không thành.
Như trình bày trên, nhận thấy Công ty đã vi phạm khoản 4.1 Điều 4 của hợp đồng lao động số HDLD/2024/VAC3249-2 “Công ty có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ,
đúng thời hạn các chế độ quyền lợi theo hợp đồng”. Đồng thời, công ty đã vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng lao động là “không tôn trọng danh dự và nhân phẩm của người lao động” thông qua hành vi cô lập, gây khó khăn áp lực cho người lao động đang mang thai.
Bà được biết Công ty có thanh toán tiền thưởng hàng năm cho nhân viên, nhưng bà không được nhận khoản tiền này. Theo quy định tại điều 3 hợp đồng lao động “Tiền thưởng: lương tháng thứ 13 theo chính sách Công ty”. Theo quy định tại mục VIII, điểm 2 Chính sách nhân sự “Công ty thưởng một tháng lương (lương cơ bản+phụ cấp) cho nhân viên làm đủ một năm tính đến ngày 31/12 hàng năm và được trả thành hai lần vào kỳ lương tháng 1 và kỳ lương tháng 3 của năm tiếp theo”. Như vậy, căn cứ theo quy định trên số tiền thưởng hàng năm tôi được nhận là một tháng lương (lương cơ bản 35.700.000đ + phụ cấp 10.200.000đ) là 45.900.000 đồng. Đến nay, các nhân viên trong Công ty đã nhận được 100% số tiền thưởng này. Tuy nhiên, Công ty không chi trả và không có bất kỳ thông báo nào cho bà.
Bà đề nghị Toà án giải quyết:
- + Buộc Công ty TNHH A thanh toán số tiền lương còn nợ từ kỳ lương tháng 7/2024 đến khi Công ty thực hiện thanh toán đúng theo hợp đồng, tạm tính đến tháng 3/2025 là 09 tháng x 5.100.000 đồng/tháng = 45.900.000 đồng.
- + Buộc Công ty TNHH A thanh toán số tiền thưởng hàng năm theo đúng hợp đồng lao động và chính sách nhân sự của Công ty 45.900.000 đồng.
- + Buộc Công ty TNHH A xin lỗi công khai.
- + Bà rút yêu cầu khởi kiện buộc Công ty bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại và bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần số tiền là 20.000.000 đồng, rút yêu cầu trả tiền lãi đối với số tiền lương chậm trả.
- Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn A trình bày:
Bà Phạm Thị P là nhân viên thuộc Phòng Quản lý Chất lượng, bắt đầu làm việc tại Công ty từ ngày 03/01/2023 theo Thư mời làm việc ngày 18/11/2022, hai bên đã ký kết:
Hợp đồng lao động lần 1 ngày 03/01/2023, thử việc đến ngày 03/3/2023 chính thức, hợp đồng thời hạn 01 năm.
Hợp đồng lao động lần 2 số HDLD/2024/VAC3249-2, có thời hạn 01 năm từ ngày 04/03/2024 đến ngày 25/03/2025.
Sau khi kết thúc hợp đồng lần thứ nhất, Công ty đã tiến hành đánh giá năng lực của bà Phạm Thị P, với một số ghi nhận từ Trưởng phòng Quản lý Chất lượng như sau:
Năng lực chuyên môn chưa đáp ứng một số nhiệm vụ trong sơ đồ tổ chức. Tuy nhiên, quản lý trực tiếp cam kết hỗ trợ, đào tạo thêm.
Trong các tháng tiếp theo, Ban Giám đốc đánh giá bà Phạm Thị P không đủ năng lực quản lý các phòng: Đo lường, IQC, L và trạm QCO, cụ thể:
Phòng đo lường phải điều chuyển người khác phụ trách do bà Phạm Thị P không đảm bảo yêu cầu. Phòng Lab nhiều lần bị phản ánh về hiệu quả làm việc,
quản lý không đạt yêu cầu. Phòng IQC xử lý hàng lỗi không hiệu quả, gây phát sinh chi phí. Trạm QCO không hoàn thành nhiệm vụ, phải thay đổi người quản lý.
Các sự việc cụ thể gần đây (tính đến tháng 7/2024):
Tự ý cho nhân viên dưới quyền về sớm mà không thông qua cấp quản lý hoặc Phòng Nhân sự. Có dấu hiệu khuyến khích nhân sự tìm việc mới khi vẫn còn làm việc tại Công ty. Chia sẻ thông tin không liên quan công việc vi phạm cam kết bảo mật thông tin.
Về việc thưởng hiệu suất công việc (KPI):
Đây là khoản thưởng không cố định, được chi trả dựa trên mức độ hoàn thành chỉ tiêu công việc theo hệ thống đánh giá KPI. Mục đích là:
Ghi nhận, khuyến khích người lao động có đóng góp thực chất; Tạo động lực nâng cao hiệu suất và chất lượng công việc; Gắn kết hiệu quả cá nhân với kết quả hoạt động của bộ phận Công ty.
Do bà Phạm Thị P không hoàn thành nhiệm vụ, nhiều nội dung bị cắt giảm phạm vi công việc nên Công ty không xét thưởng KPI từ tháng 7/2024. Nội dung này đã được Tổng Giám đốc đề cập tại các cuộc họp nội bộ và thể hiện qua các email, trong đó có email ngày 15/08/2024 do chính bà Phạm Thị P gửi xác nhận các thiếu sót của mình.
Về việc điều chỉnh lương:
Ngày 27/09/2024, Công ty đã tổ chức họp để thỏa thuận lại mức lương và khối lượng công việc do chưa đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên, do bà Phạm Thị P không đồng ý, nên mức lương hiện vẫn giữ nguyên.
Về thưởng cuối năm:
Thưởng cuối năm tại Công ty không bắt buộc theo quy định pháp luật, mà căn cứ theo kết quả kinh doanh và mức độ đóng góp của từng nhân sự. Chính sách nhân sự sửa đổi lần thứ 3, hiệu lực từ ngày 26/12/2024, cũng đã nêu rõ điều kiện xét thưởng. Do đó, việc không thưởng cuối năm cho bà Phạm Thị P là có căn cứ và đúng quy định nội bộ.
Hợp đồng lao động giữa Công ty và bà Phạm Thị P đã hết hạn ngày 25/3/2025 và Công ty không kí hợp đồng lao động mới nào nên bà Phạm Thị P không còn là nhân viên của Công ty nữa.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại bản án lao động sơ thẩm số: 05/2025/LĐ-ST ngày 19 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai đã căn cứ các Điều 32, 35, 147,184, 217, 218, 220, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 33, 90, 104, 188 Bộ luật lao động; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị P đối với bị đơn Công ty TNHH A1 về tranh chấp yêu cầu trả tiền lãi do thanh toán thiếu tiền
lương, thưởng và yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại, tổn thất về tinh thần số tiền 20.000.000 đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị P đối với bị đơn Công ty TNHH A1.
Buộc Công ty A1 trả cho bà Phạm Thị P số tiền lương 45.900.000 (bốn mươi lăm triệu chín trăm nghìn) đồng và tiền thưởng 45.900.000 (bốn mươi lăm triệu chín trăm nghìn) đồng.
Về án phí: Công ty TNHH A1 phải chịu 4.590.000 đồng án phí lao động sơ thẩm.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.
Kháng cáo:
Ngày 28/8/2025 bị đơn là Công ty TNHH A có đơn kháng cáo. Lý do: Không đồng ý về việc bản án tuyên buộc Công ty A1 trả cho bà Phạm Thị P1 số tiền lương 45.900.000 (bốn mươi lăm triệu chín trăm nghìn) đồng và tiền thưởng 45.900.000 (bốn mươi lăm triệu chín trăm nghìn) đồng. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn phát biểu: Nội dung phát biểu thể hiện trong bài luận cứ bảo vệ quyền lợi được công khai tại phiên tòa. Tóm lại, nội dung xác định Bản án sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đúng với quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Phần phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Tòa cấp phúc thẩm đã thực hiện việc thụ lý, phân công Thẩm phán làm chủ tọa giải quyết vụ án, đảm bảo quyền kháng cáo. Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định. Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo đúng thành phần,
vô tư, khách quan và không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng; đồng thời, thủ tục phiên tòa được thực hiện đầy đủ và đúng quy định.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Quan điểm của Kiểm sát viên đối với kháng cáo: Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên thể hiện trong bài phát biểu đã được nêu công khai tại phiên tòa. Tóm lại, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn Công ty TNHH A làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn bà Phạm Thị P và Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà P có mặt; đại diện theo uỷ quyền của bị đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng: Cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, nhận thấy:
Bà Phạm Thị P và Công ty TNHH A đã ký Hợp đồng lao động số HDLD/2024/VAC3249-2 ngày 04 tháng 3 năm 2024.
Tại Điều 3 của Hợp đồng xác định: Mức lương tổng là 51.000.000 đồng, bao gồm lương cơ bản, hỗ trợ đi lại và nhà ở, KPI.
Thực hiện hợp đồng, từ tháng 3/2024 đến tháng 6/2024 Công ty TNHH A trả đủ tiền lương 51.000.000 đồng/tháng cho bà P, nhưng từ kỳ lương tháng 07/2024 đến khi kết thúc hợp đồng, mỗi tháng chỉ trả cho bà P số tiền 45.900.000 đồng, tính trên mức thoả thuận của hợp đồng thì thanh toán thiếu 5.100.000 đồng/tháng.
Mức lương 51.000.000 đồng/tháng là sự tự nguyện thoả thuận giữa hai bên Công ty TNHH A và bà P khi giao kết hợp đồng. Công ty tự cắt giảm mức lương đã thoả thuận trong hợp đồng, không có sự thoả thuận với người lao động và không được người lao động đồng ý là vi phạm điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng lao động. Việc đơn phương cắt giảm lương của bà P (5.100.000 đồng/tháng) là trái quy định tại Điều 33 Bộ luật lao động.
Công ty trình bày, việc giảm lương của bà P là giảm tiền KPI (là khoản thưởng không cố định, được chi trả dựa trên mức độ hoàn thành chỉ tiêu công việc theo hệ thống đánh giá KPI), vì bà P không hoàn thành nhiệm vụ, nhiều nội dung bị cắt giảm phạm vi công việc nên Công ty không xét thưởng KPI chứ không phải cắt giảm lương. Xét lý do Công ty đưa ra để cắt giảm tiền lương của bà P là không phù hợp với điều khoản thoả thuận trong hợp đồng lao động đã ký kết và không phù hợp với quy định tại Điều 90 Bộ luật lao động quy định: “ 1. Tiền lương...bao gồm mức
lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”. Do đó, cần phải buộc Công ty TNHH A trả cho bà P số tiền lương chi trả còn thiếu là 45.900.000 đồng (5.100.000 đồng x 9 tháng).
Đối với tiền thưởng hàng năm: Tại mục 3.1 Điều 3 Hợp đồng lao động ký kết giữa bà Phạm Thị P và Công ty TNHH A thể hiện: “Tiền thưởng: Lương tháng 13 theo chính sách lương Công ty” và theo Nội quy Công ty cũng quy định rõ thưởng lương tháng 13 cho người lao động. Đại diện bị đơn cũng thừa nhận đã chi trả tiền thưởng lương tháng 13 cho tất cả các nhân viên khác trong Công ty. Công ty cho rằng thưởng cuối năm tại Công ty không bắt buộc theo quy định pháp luật, mà căn cứ theo kết quả kinh doanh và mức độ đóng góp của từng nhân sự. Chính sách nhân sự sửa đổi lần thứ 3, hiệu lực từ ngày 26/12/2024, cũng đã nêu rõ điều kiện xét thưởng. Vì vậy, việc không thưởng cuối năm cho bà Phạm Thị P là có căn cứ và đúng quy định nội bộ. Xét lý do của Công ty đưa ra để không chi trả lương tháng 13 cho bà P là không có cơ sở vì trái với điều khoản của hợp đồng lao động mà hai bên ký kết, trái với nội quy công ty và không phù hợp quy định pháp luật. Do đó, cần buộc Công ty trả cho bà P số tiền thưởng 45.900.000 đồng lương tháng 13 theo đúng hợp đồng đã giao kết.
Từ những dẫn chứng nêu trên, cho thấy đường lối giải quyết của bản án sơ thẩm là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn không có tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo.
[4] Về án phí:
Án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bản án sơ thẩm buộc bị đơn Công ty TNHH A phải chịu án phí lao động sơ thẩm là đúng với quy định.
Án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn Công ty TNHH A phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm Công ty đã nộp sẽ được tính trừ vào án phí phải chịu.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH A. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ các Điều 33, 90, 104, 188 Bộ luật lao động; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị P đối với bị đơn Công ty TNHH A về tranh chấp yêu cầu trả tiền lãi do thanh toán thiếu tiền lương, thưởng và yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại, tổn thất về tinh thần số tiền 20.000.000 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị P đối với bị đơn Công ty TNHH A.
- Buộc Công ty TNHH A trả cho bà Phạm Thị P số tiền lương trả còn thiếu là 45.900.000 đồng (bốn mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng) và tiền thưởng lương tháng 13 là 45.900.000 đồng (bốn mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cũng bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Công ty TNHH A phải chịu 4.590.000 đồng (bốn triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng) án phí lao động sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng Công ty TNHH A đã nộp (theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003200 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai) được tính trừ vào án phí phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thế Phương |
Bản án số 02/2026/LĐ-PT ngày 22/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng lao động
- Số bản án: 02/2026/LĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng lao động
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2026
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị đơn kháng cáo không đồng ý trả lương KPI và thưởng lương tháng 13
