Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN

Bản án số: 02/2026/HS - ST

Ngày 06/01/2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đức Thuỷ và bà Nguyễn Thị Tâm.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Cường và ông Nguyễn Văn T, Kiểm sát viên.

Ngày 06/01/2026, tại Nhà văn hóa xã P, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/TLST- HS, ngày 04/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 23/12/2025 đối với bị cáo:

Phương Văn T1; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 28/01/2000 tại Thái Nguyên: Nơi ĐKHKTT: Xóm Đ, xã Y, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phương Văn Đ, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1977; Vợ Nguyễn Thị Thành A, sinh năm 2004 (Đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/9/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh T. Có mặt.

* Người chứng kiến: Lương Trung H, sinh năm 1989. Địa chỉ: Xóm L, xã Y, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 01/9/2025, tại khu vực đoạn đường bê tông thuộc xóm Làng, xã Y, tỉnh Thái Nguyên; tổ công tác Công an xã Y, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang Phương Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Quá trình kiểm tra, T1 tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng hồng. T1 khai nhận, số chất bột màu trắng hồng trên là ma tuý Heroine, T1 mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng trong bì niêm phong ký hiệu T1 theo quy định. Cùng ngày, Công an xã Y phối hợp với Trạm y tế Y xét nghiệm chất ma tuý trong nước tiểu Phương Văn T1 cho kết quả dương tính với chất ma tuý, loại Morphine-MOP và Methamphetamine-MET; tiến hành thu mẫu nước tiểu của T1 và niêm phong trong bì ký hiệu T2 để giám định và chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phương Văn T1 tại xóm Đ, xã Y, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình khám xét, không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 01/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân toàn bộ khối lượng số chất bột màu trắng hồng đã thu giữ của Phương Văn T1 được 0,160 gam và niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 274/KL-KTHS ngày 09/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

“- Chất bột màu trắng hồng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma tuý; loại Methamphetamine và Heroine; Khối lượng là 0,160 gam.

- Tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu T2 gửi giám định. Tìm thấy chất M, Codein, MAM-6, MAM-3 là sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý Heroine trong mẫu nước tiểu ký hiệu T2 gửi giám định.”.

Quá trình điều tra, Phương Văn T1 khai nhận: T1 hiện đang trong thời gian chấp hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú số 12/QĐ-UBND ngày 19/3/2025 của Ủy ban nhân dân xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (nay là xã Y, tỉnh Thái Nguyên) nhưng vẫn thường xuyên mua ma tuý về sử dụng. Khoảng 10 giờ ngày 01/9/2025, T1 bắt xe buýt từ nhà xuống khu vực chợ T3 thuộc xã Y, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma tuý. Đến nơi, T1 đi bộ đến khu vực cổng chợ T3 thì gặp một người đàn ông không quen biết rồi mua được của người đàn ông này 01 gói ma tuý dạng chất bột màu trắng hồng, được đựng trong 01 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu đỏ với giá 50.000 đồng. Sau đó, T1 cầm gói ma tuý rồi đi bộ đến khu vực xóm Làng, xã Y, tỉnh Thái Nguyên để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Y kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như nêu trên. Lời khai của Phương Văn T1 phù hợp với lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,092 gam mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu T1 và các vỏ giấy gói.

Tại bản cáo trạng số: 19/CT-VKS-KV4 ngày 03/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phương Văn T1 các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2025.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a)...
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”.

“Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
a)...
b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy; ”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phương Văn T1 từ 36 đến 42 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và 24 đến 30 tháng tù về tội "Sử dụng trái phép chất ma tuý". Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phương Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 60 đến 72 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/9/2025.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo Phương Văn T1 không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,092 gam mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định và 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu T1 và các vỏ giấy gói.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ và lời khai của người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có căn cứ để khẳng định:

Bị cáo Phương Văn T1 đang chấp hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú bằng quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 19/3/2025 của Ủy ban nhân dân xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (nay là xã Y, tỉnh Thái Nguyên). Hồi 10 giờ 30 phút ngày 01/9/2025, tại khu vực đoạn đường bê tông xóm Làng, xã Y, tỉnh Thái Nguyên; bị cáo T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,160 gam ma tuý loại Methamphetamine và H1 mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã Y, tỉnh Thái Nguyên bắt quả tang và thu mẫu nước tiểu của T1 niêm phong ký hiệu T2 để giám định. Kết luận giám định số 274/KL-KTHS ngày 09/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu T2 gửi giám định. Tìm thấy chất M, Codein, MAM-6, MAM-3 là sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý Heroine trong mẫu nước tiểu ký hiệu T2 gửi giám định. Như vậy, Cáo trạng số 19/CT-VKS-KV4 ngày 03/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phương Văn T1 về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 và tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2025 là có căn cứ đúng người, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất hành vi vi phạm là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương, cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung (Phạt tiền): Theo các tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án xét thấy bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[6] Về vật chứng của vụ án: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,092 gam mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu T1 và các vỏ giấy gói - xác định là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu huỷ.

[7] Các nội dung khác của vụ án:

Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ, bị cáo T1 khai mua của người đàn ông không quen biết, bản thân T1 không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không có cơ sở làm rõ để xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt chính và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phương Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phương Văn T1 40 (Bốn mươi) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và 30 (Ba mươi) tháng tù về tội "Sử dụng trái phép chất ma tuý". Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phương Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 70 (Bảy mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/9/2025.

Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án, kể từ ngày tuyên án 06/01/2026.

Phạt bổ sung (Phạt tiền): Không phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,092 gam mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu T1 và các vỏ giấy gói.

(Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Thái Nguyên).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; quy định về trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND Khu vực 4 - Thái Nguyên;
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
- Cơ quan CSĐT CA tỉnh;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- THAHS;
- Sở Tư pháp tỉnh;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đặng Đình Hưng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2026/HS - ST ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên về tàng trữ trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 02/2026/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phương Văn Thành đang chấp hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú bằng quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 19/3/2025 của Uỷ ban nhân dân xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (nay là xã Yên Trạch, tỉnh Thái Nguyên). Hồi 10 giờ 30 phút ngày 01/9/2025, tại khu vực đường bê tông thuộc xóm Làng, xã Yên Trạch, tỉnh Thái Nguyên; bị cáo Thành có hành vi tàng trữ trái phép 0,160 gam ma tuý loại Methamphetamine và Heroine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã Yên Trạch, tỉnh Thái Nguyên bắt quả tang và thu mẫu nước tiểu của Thành niêm phong ký hiệu T2 để giám định. Kết luận giám định số 274/KL-KTHS ngày 09/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu T2 gửi giám định. Tìm thấy chất Mocphine, Codein, MAM-6, MAM-3 là sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý Heroine trong mẫu nước tiểu ký hiệu T2 gửi giám định.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger