|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2026/HNGĐ-PT Ngày 16/01/2026 V/v: Chia tài sản chung sau ly hôn |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Ông Nguyễn Gia Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/TLPT-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2025 về việc “Chia tài sản chung sau ly hôn”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 91/2025/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 76/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Kim T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt;
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Công ty L; địa chỉ: Tầng A tòa nhà V, số I phố D, phường C, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Dương Đức T1 – Giám đốc. Có mặt;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt;
Người kháng cáo: Nguyên đơn là chị Hoàng Thị Kim T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án như sau:
* Nguyên đơn chị Hoàng Thị Kim T do ông Dương Đức T1 diện trình bày: Chị T và anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 2012, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên đã giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Bắc Ninh) vào năm 2022. Khi giải quyết ly hôn anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung của vợ chồng.
Nay chị T yêu cầu chia tài sản chung của chị và anh H bao gồm: Quyền sử dụng thửa đất số 320; tờ bản đồ số 21; diện tích 107,3m²; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 483202, số vào sổ cấp giấy: CH 00090, QĐ số: 2959/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 24/11/2021 và một ngôi nhà được xây dựng trên thửa đất (chưa đăng ký tài sản gắn liền với đất) (viết tắt là thửa đất số 320), tổng trị giá nhà và đất khoảng 2.000.000.000đ. Nguồn gốc đất do bố mẹ anh H tặng cho vợ chồng. Chị T đề nghị được chia bằng tiền là 1.000.000.000₫.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh H xác nhận trong thời gian chung sống anh và chị T có tài sản chung là thửa đất số 320 và 01 nhà mái Thái gắn liền đất. Nguồn gốc đất do bố mẹ anh tặng cho vợ chồng, anh làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là QSDĐ) ngày 24/11/2021. Sau khi anh và chị T ly hôn (năm 2022) thì anh là người trực tiếp sử dụng, quản lý đất và nhà.
Đối với ngôi nhà: Anh xác định công sức vợ chồng bằng nhau nên anh đồng ý trích chia cho chị T số tiền 200.000.000đ.
Đối với QSDĐ: Là do bố mẹ anh tặng nên anh không đồng ý chia.
Anh đề nghị được tiếp tục sử dụng nhà đất và đồng ý trích chia tài sản gắn liền đất theo quy định pháp luật với giá trị như định giá nhà nước. Hiện nay tiền nợ xây nhà là 500.000.000đ do một mình anh trả nhưng anh không yêu cầu giải quyết.
Ngày 18/8/2025, Hội đồng định giá tài sản xác định: Ngôi nhà trị giá 377.627.328đ, đất trị giá 214.600.000đ.
Với nội dung trên, bản án sơ thẩm số 91/2025/HNGĐ-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh đã căn cứ Điều 33, 38, khoản 2 Điều 59, khoản 2 Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 207, 209, 213, 219, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; các Điều 28, 35, 39, Điều 144, Điều 147, Điều 150, Điều 157, Điều 165 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Kim T:
Giao cho anh Nguyễn Văn H quản lý và sử dụng tài sản gồm: Quyền sử dụng thửa đất số 320 và sở hữu 01 căn nhà cấp 3 loại 2 không có công trình phụ khép kín, nhà tầng lửng, diện tích 107,3m².
Anh Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ trích chia trả chị Hoàng Thị Kim T số tiền là 274.650.724 đồng (Hai trăm bảy mươi tư triệu sáu trăm năm mươi nghìn bảy trăm hai mươi tư đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 20/10/2025, người đại diện theo uỷ quyền của chị T là ông Dương Đức T1 kháng cáo toàn bộ bản án đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xác định công sức đóng góp của anh H và chị T đối với khối tài sản chung là ngang nhau, đồng thời xem xét lại giá trị thửa đất đang tranh chấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nhưng không đề nghị toà án định giá lại tài sản; các đương sự không hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đảm bảo thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 BLTTDS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí: Chị Hoàng Thị Kim T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Nội dung: Chị Hoàng Thị Kim T và anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 2012 và ly hôn năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Khi ly hôn, anh chị chưa giải quyết về tài sản. Nay chị T khởi kiện đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án là có căn cứ.
Tài sản chung là thửa đất số 320 đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 483202, số vào sổ cấp giấy: CH 00090, QĐ số: 2959/QĐ-UBND ngày 24/11/2021 mang tên anh Nguyễn Văn H và chị Hoàng Thị Kim T. Tài sản gắn liền trên đất là một căn nhà cấp 3 loại 2. Nội dung này đều được chị T, anh H thừa nhận. Vì vậy, được coi là chứng cứ theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự nên không phải chứng minh.
[3] Xét kháng cáo của chị Hoàng Thị Kim T, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Đối với thửa đất số 320: Nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ anh H tặng cho vợ chồng năm 2021 và vợ chồng được cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 24/11/2021.
Năm 2022, vợ chồng ly hôn. Sau khi ly hôn thì anh H là người trực tiếp sử dụng, quản lý nhà đất cho đến nay. Do đó, cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 320 là tài sản chung vợ chồng và chia cho anh H 60% giá trị QSDĐ, chia cho chị T 40 % giá trị QSDĐ là có căn cứ.
Đối với công trình trên đất là căn nhà cấp 3 loại 2: Được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung vợ chồng. Bản án sơ thẩm xác định công sức đóng góp của 2 bên là như nhau nên đã chia cho anh H và chị T mỗi người 50% giá trị ngôi nhà là phù hợp.
[3.2] Đối với giá trị của thửa đất số 320:
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 18/8/2025 thì thửa đất số 320 thuộc vị trí 1, khu vực 2, đất ở nông thôn có giá trị 2.000.000đ/m². Chị T cho rằng giá đất như vậy là thấp và đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại giá trị đất. Tuy nhiên, quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm đại diện theo uỷ quyền của chị T không thực hiện nộp tiền tạm ứng định giá và tại phiên toà phúc thẩm cũng không đề nghị toà án định giá lại tài sản.
HĐXX xét thấy: Hội đồng định giá được Toà án cấp sơ thẩm thành lập đúng quy định, đúng trình tự thủ tục tố tụng, phương pháp định giá được tham khảo từ các văn bản quy định về giá đất và tài sản trên đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và từ giá đất, tài sản được giao dịch trên thị trường tại nơi có tài sản đang tranh chấp. Chị T cho rằng thửa đất 320 có giá 2.000.000/m² là thấp nhưng ngoài lời trình bày chị T không đưa ra được căn cứ, văn bản nào chứng minh. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị T.
[4] Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên chị Hoàng Thị Kim T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của chị Hoàng Thị Kim T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 91/2025/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.
2. Án phí: Chị Hoàng Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ 300.000đồng đã nộp tại biên lai số 0002784 ngày 31/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tuyết Mai |
Bản án số 02/2026/HNGĐ-PT ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về chia tài sản chung sau ly hôn
- Số bản án: 02/2026/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản chung sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hoàng Thị Kim T tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn với anh Nguyễn Văn H
