Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 02/2026/HC-PT

Ngày: 22/01/2026

V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hương.

Các thẩm phán: Bà Đào Thị Kiều Vân

Bà Bùi Lan Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Thùy – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 và 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 17/2025/TLPT-HC ngày 28 tháng 11 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/HC-ST ngày 12 tháng 06 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực thuế” của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 16/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 12 năm 2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 24/2025/TB-TA ngày 31 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2026/QĐ-PT ngày 09 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Số E, tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai), tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng V, sinh năm 1982 (Theo giấy ủy quyền ngày 10/4/2024).

Địa chỉ: Số C, Quốc lộ A, phường P, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, TP .).

Người bị kiện: Chi cục trưởng Chi cục thuế khu vực B - V (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Trưởng Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai).

Địa chỉ: B đường C, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Đồng X - Chức vụ: Phó trưởng Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai. (Theo giấy ủy quyền ngày 07/6/2024).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ.

Địa chỉ: Số B, đường P, khu phố C, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn L, sinh năm 1982 – Giám đốc Văn phòng Đ – Chi nhánh B. (Theo giấy ủy quyền ngày 15/12/2025)

Địa chỉ: Số B, đường V, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai.

2. Bà Trần Thị H, sinh năm 1976.

Địa chỉ: D, khu phố F, phường L, thành phố B (nay là phường L), tỉnh Đồng Nai.

(Ông V có mặt, các đương sự còn lại có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, lời trình bày có tại hồ sơ và phiên toà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Hồng V trình bày:

Ông T quản lý sử dụng thửa đất số số 21, tờ bản đồ số 151 phường L từ ngày 02/3/2005 nguồn gốc nhận chuyển nhượng. Vào năm 2014, ông T đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo biên nhận hồ sơ số 2617/BNHS-VPĐK cấp ngày 27/11/2014. Đến năm 2022, Chi cục thuế khu vực B-Vĩnh Cửu gửi cho ông T thông báo thuế số 0606148437/22- LPTB/TB-CCT, thông báo số 0606148437/22-SDD/TB-CCT, thông báo số 0606148437/22-TNCN/TB-CCT ngày 06/6/2022 về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số tiền tổng cộng là 664.294.734 đồng. Ông T đã nộp tiền lần một 50% là 319.920.000 đồng vào ngày 27/6/2022, lần hai 50% còn lại là 319.920.000 đồng vào ngày 30/8/2022. Trong suốt thời gian thực hiện nghĩa vụ đóng thuế này ông T không nhận được bất kỳ thông báo thu hồi, sửa chữa, bổ sung nào từ cơ quan thuế. Như vậy theo quy định của pháp luật luật ông T đã hoàn tất nghĩa vụ nộp thuế của người sử dụng đất. Sau khi thực hiện hoàn tất nghĩa vụ thuế theo quy định, ngày 30/8/2022, ông T qua Bộ phận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để nhận giấy chứng nhận thì cán bộ ở đây lại giao cho ông T các văn bản là: Thông báo số 12893/CCTKV- TBTK ngày 16/6/2022 của Chi cục thuế khu vực B - V về việc hủy thông báo nộp thuế số 0606148437/22-LPTB/TB-CCT ngày 06/06/2022, hủy thông báo báo số 0606148437/22-SDD/TB-CCT, hủy thông báo số 0606148437/22-TNCN/TB-CCT ngày 06/6/2022 và giao cho tôi các Thông báo số 2906148702/22-LPTP/TP-CCT về việc nộp lệ phí trước bạ số tiền là 25.977.240 đồng; thông báo số 2906148702/22- TNCN/TB-CCT nộp thuế thu nhập cá nhân đối với người chuyển nhượng quyền sử dụng đất số tiền là 18.036.900 đồng; thông báo số 2906148702/22-SDD/TB-CCT ngày 30/6/2022 nộp thuế sử dụng đất số tiền là 2.595.510.000 đồng. Ngày 10/01/2024 Chi cục thuế ra tiếp thông báo số 757 có nội dung hủy thông báo nộp thuế số tiền sử dụng đất đối với số tiền 2.595.510.000 đồng và Thông báo số 897 ngày 11/01/2024 hủy thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế trước bạ đối với số tiền 44.014.140 đồng. Đến ngày 21/02/2024 Chi cục trưởng Chi cục thuế B có văn bản số 2793/CCTKV-KTNB về việc trả hồ sơ của tôi có nội dung: chuyển trả lại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh B hồ sơ đề nghị xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với thửa đất số số 21, tờ bản đồ số 151 phường L, TP .; khi nào văn phòng đăng ký đất đai chuyển lại hồ sơ có ghi đầy đủ thông tin, cụ thể rõ ràng thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai nhận đủ hồ sơ hợp lệ đúng theo quy định, Chi cục thuế sẽ xác định nghĩa vụ tài chính và phát hành thông báo nộp thuế mới cho ông Nguyễn Văn T.

Văn bản số 2793 này được ban hành không đúng quy định của pháp luật về quản lý đất đai và quản lý thuế, gây khó khăn trở ngại cho tôi trong việc thực hiện thủ tục hành chính và quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tự nó có mâu thuẫn trong việc viện dẫn văn bản pháp luật xác định thời điểm tính thu tiền sử dụng đất. Một mặt văn bản này nói “thời điểm văn phòng đăng ký đất đai nhận đủ hồ sơ hợp lệ” theo Nghị định 43 năm 2014, Nghị định 01 năm 2017, Thông tư liên tịch số 88 năm 2016 của Bộ T3 và Bộ T4. Mà theo các quy định này thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ chi nhánh T nhận đủ hồ sơ hợp lệ của tôi là ngày 27/11/2014 (biên nhận hồ sơ số 2617/BNHS-VPĐK cấp ngày 27/11/2014 và Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính đất đai số 7808 ngày 30/5/2022 của Văn phòng Đ Chi nhánh B, mục 1.7 ghi nhận “thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ”: 27/11/2014). Mặt khác, văn bản lại dựa vào công văn số 70 ngày 03/01/2014 của Cục thuế tỉnh Đ, có nội dung “...Cục thuế tỉnh Đ chỉ đạo Chi cục thuế khu vực B-Vĩnh Cửu hủy thông báo nộp tiền sử dụng đất...”. Từ đó Chi cục thuế chuyển trả hồ sơ của tôi cho Văn phòng đăng ký đất đai mà không nói rõ được là hồ sơ của ông T thiếu tài liệu hay thông tin gì. Thực tế là, đối chiếu với các quy định của pháp luật ở trên, hồ sơ của tôi đã hoàn toàn đầy đủ tài liệu và đủ điều kiện ra thông báo thuế theo bảng giá đất năm 2014 (như chính Chi cục thuế đã thực hiện vào ngày 06/6/2022).

Thêm cái sai của công văn số 70 là chỉ dựa vào kết quả báo cáo giải quyết khiếu nại, phản ánh của Chi cục thuế đối với ông T, chứ không phải là báo cáo hay ý kiến của cơ quan chuyên môn nào khác như thanh tra kiểm tra, hay là do Cục thuế kiểm định đánh giá toàn bộ sự việc.

Theo Điều 16 Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định về thẩm quyền, thủ tục, quyết định ấn định thuế là Chi cục trưởng Chi cục thuế khu vực B-V.

Vì những lý do trên ông T đề nghị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giải quyết:

  • Hủy văn bản 2793/CCTKV-KTNB ngày 21/02/2024 của Chi cục trưởng Chi cục thuế khu vực B-V;
  • Hủy thông báo số 12893/CCTKV-TBTK ngày 16/6/2022 của Chi cục thuế khu vực B – V.
  • Buộc Chi cục trưởng Chi cục thuế khu vực B-V thực hiện hành vi ra thông báo nộp thuế đối với thửa đất số số 21, tờ bản đồ số 151, phường L, TP ., theo Giấy biên nhận hồ sơ số 2617/BNHS-VPĐK ngày 27/11/2014 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh B, phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính đất đai số 7808 ngày 30/5/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh B. Bảng giá đất áp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác được tính tại thời điểm hồ sơ hợp lệ ngày 27/11/2014.

Tại phiên Tòa, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện nộp đơn khởi kiện bổ sung khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án hủy các thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất số LTB2571301-TK0019415/TB-DT ngày 02/6/2025, thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân số LTB2571301/TK0019416/TB-ĐT ngày 02/6/2025, thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2571301/TK0019417/TB-ĐT ngày 02/6/2025 2; buộc Chi cục trưởng Chi cục thuế khu vực B – V ban hành lại thông báo thuế xác định đúng thời điểm theo biên nhận hồ sơ số 2617/BNHS-VPĐK ngày 27/11/2014 và phiếu chuyển thông tin số 7808 ngày 30/5/2022.

Ông T cam đoan không đồng thời khiếu nại các văn bản, thông báo này đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

2. Người bị kiện Chi cục trưởng Chi cục thuế khu vực B – V (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Trưởng thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai trình bày:

2.1. Về tài liệu, thông tin, bằng chứng do Chi cục thuế khu vực B - V xác minh thu thập được:

- Phiếu chuyển thông tin để xác định NVTC về đất đai số 7808/PCDT ngày 30/5/2022 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B chuyển Chi cục thuế khu vực B – V để xác định nghĩa vụ tài chính.

- Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn T lập ngày 15/3/2022, có xác nhận của UBND phường L cùng ngày 15/3/2022, được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B xác nhận ngày 25/5/2022.

2.2. Chi cục thuế khu vực B - V xác định nghĩa vụ tài chính như sau:

Về chính sách:

- Căn cứ Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13 tháng 6 năm 2019;

- Khoản 4 Điều 10 Thông tư số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22/6/2016 của Bộ T3 – Bộ T5 quy định về hồ sơ và trình tự, thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ xác định NVTC về đất đai của người sử dụng đất quy định: “4. Trách nhiệm của Văn phòng đăng ký đất đai: “c) Cung cấp thông tin và hồ sơ bổ sung theo yêu cầu của cơ quan thuế hoặc cơ quan tài chính đối với trường hợp hồ sơ không đủ thông tin hoặc có sai sót để xác định nghĩa vụ tài chính, xác định các khoản được trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật....”

Về phát hành thông báo nộp tiền sử dụng đất số 0606148437/22-SDD/TB-CCT ngày 06/06/2022 của Chi cục B.

Căn cứ Phiếu chuyển thông tin để xác định NVTC số 7808/PCDT ngày 30/5/2022 của Văn phòng Đăng ký, Chi cục thuế xác định NVTC thửa đất số 151, tờ bản đồ 51 phường L đối với ông Nguyễn Văn T và phát hành thông báo nộp tiền SDĐ số 0606148437/22-SDD/TB-CCT ngày 06/06/2022, số tiền 639.840.000 đồng;

Do phát hiện việc xác định NVTC và phát hành thông báo thuế nhầm lẫn về giá đất, nên ngày 16/6/2022 B phát hành thông báo số 12893/CCTKV-TBTK gửi Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B, ông Nguyễn Văn T và Kho bạc Nhà nước Đ1 biết về việc H1 thông báo nộp thuế đã phát hành ngày 06/6/2022 gồm các thông báo sau:

  • Lệ phí trước bạ: số 0606148437/22-LPTB/TB-CCT, số tiền: 6.417.834 đồng
  • Tiền SDĐ: số 0606148437/22-SDD/TB-CCT, số tiền: 639.840.000 đồng
  • Thuế TNCN: số 0606148437/22-TNCN/TB-CCT, số tiền: 18.036.900 đồng

Về phát hành thông báo báo nộp tiền sử dụng đất số 2906148702/22-SDD/TB-CCT ngày 30/06/2022 của Chi cục B.

- Căn cứ khoản 41 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, bổ sung khoản 4 và khoản 5 vào Điều 63 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP như sau: “4. Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất đối với trường hợp công nhận quyền sử dụng đất là thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế...

Trường hợp Văn phòng đăng ký đất đai chuyển thông tin chậm hoặc cơ quan thuế chậm xác định nghĩa vụ tài chính thì thời điểm tính thu tiền sử dụng đất được xác định là thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai nhận đủ hồ sơ hợp lệ.”

- Căn cứ điểm b.2 khoản 6 Điều 10 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế: “ b.2) Trường hợp công nhận quyền sử dụng đất là thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế. Trường hợp Văn phòng đăng ký đất đai chuyển hồ sơ cho cơ quan thuế chậm hoặc cơ quan thuế chậm xác định nghĩa vụ tài chính so với thời hạn quy định của pháp luật thì thời điểm tính thu tiền sử dụng đất được xác định là thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai nhận đủ hồ sơ hợp lệ.”

- Căn cứ khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất quy định: “.T1 tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất (cấp Giấy chứng nhận) cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất có nguồn gốc được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004;...

- Trường hợp đất được sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì thu tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở theo giá đất quy định tại Bảng giá đất; bằng 100% tiền sử dụng đất đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở (nếu có) theo giá đất quy định tại điểm b, điểm c khoản 3 Điều 3 Nghị định này tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.”

Về giá đất:

- Căn cứ Quyết định số 56/2022/QĐ-UBND ngày 19/12/2022 của UBND tỉnh Đ ban hành quy định về điều chỉnh, bổ sung Bảng giá đất tỉnh Đồng Nai 5 năm, giai đoạn 2020 – 2024 tại Quyết định số 49/2019/QĐ- UBND ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh Đ.

- Căn cứ Nghị quyết số 28/2022/NQ-HĐND ngày 10/12/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đ v/v thông qua điều chỉnh, bổ sung bảng giá đất tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2020 – 2024;

Phụ lục V Bảng giá đất ở tại đô thị: Đường B (Quốc lộ A nối dài), vị trí 1: 27.000.000 đ/m2 (từ mốc lộ giới đến hết mét thứ 50) và 21.600.000 đ/m2 (80% giá đất VT1 từ sau mét thứ 50 đến hết mét thứ 100).

- Tiền SDĐ phải nộp:

161,3 m2 x 27.000.000 đ/m2 x 50% = 2.177.550.000 đồng

38,7 m2 x (27.000.000 đ/m2 x 80%) x 50% = 417.960.000 đồng

Cộng: 2.595.510.000 đồng

Ngày 30/6/2022, Chi cục B xác định lại NVTC và phát hành thông báo mới gồm:

  • Lệ phí trước bạ: số 2906148702/22-LPTB/TB-CCT, số tiền: 25.977.240 đồng
  • Tiền SDĐ: số 2906148702/22-SDD/TB-CCT, số tiền: 2.595.510.000 đồng
  • Thuế TNCN: số 2906148702/22-TNCN/TB-CCT, số tiền: 18.036.900 đồng

Căn cứ hồ sơ, phiếu chuyển thông tin địa chính của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B. Chi cục thuế khu vực B – Vĩnh Cửu xác định NVTC thửa đất số 21, tờ bản đồ số 151 phường L của ông Nguyễn Văn T là đúng quy định.

2.3. Về xử lý đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn T:

Ngày 10/7/2023 Chi cục thuế nhận được đơn khiếu nại đề ngày 07/7/2023 của ông Nguyễn Văn T, nội dung khiếu nại: văn bản số 12893/CCTKV-TBTK của Chi cục B ký ngày 16/02/2022 và thông báo lệ phí trước bạ: số 2906148702/22- LPTB/TB-CCT, thuế TNCN: số 2906148702/22-TNCN/TB-CCT và tiền SDĐ: số 2906148702/22-SDD/TB-CCT của Chi cục thuế khu vực B phát hành ngày 30/6/2022;

Căn cứ Điều 9 Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011 của Quốc hội quy định: “ “ Điều 9. Thời hiệu khiếu nại: Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính. Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa, hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.” và khoản 6 Điều 11 Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 quy định ” các khiếu nại không được thụ lý giải quyết: 6. Thời hiệu, thời hạn khiếu nại đã hết mà không có lý do chính đáng.”. Chi cục thuế khu vực B – Vĩnh Cửu không thụ lý giải quyết đơn khiếu nại đề ngày 08/06/2023 của ông Nguyễn Văn T vì đã quá thời hiệu khiếu nại theo quy định.

Ngày 18/9/2023 ông Nguyễn Văn T gửi đơn khiếu nại (khẩn cấp) đến Cục thuế tỉnh Đ, sau đó được Cục T có văn bản số 11854/CTDON-KTNB ngày 09/10/2023 trả lời đơn ông T biết là đơn khiếu nại không thuộc trường hợp không thụ lý đơn theo quy định tại Điều 11 Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13, đồng thời hướng dẫn ông T có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định.

Ngày 03/01/2024, Cục thuế tỉnh Đ ban hành công văn số 70/CTDON-KTNB về việc giải quyết hồ sơ của ông Nguyễn Văn T tại phường L, có nội dung: “ ...Cục thuế tỉnh Đ chỉ đạo Chi cục thuế khu vực B – Vĩnh Cửu hủy thông báo nộp tiền sử dụng đất...”

Thực hiện công văn số 70/CTDON-KTNB ngày 03/01/2024 của Cục Thuế tỉnh Đ; Ngày 10 và ngày 11/01/2024 Chi cục Thuế đã ban hành thông báo số 757/CCTKV-TBTK v/v Hủy thông báo nộp thuế về tiền sử dụng đất số 2906148702/22-SDD/TB-CCT ngày 30/06/2022 và thông báo số 897/CCTKV- TBTK v/v Hủy thông báo nộp thuế về lệ phí trước bạ số 2906148702/22- LPTB/TB-CCT và thuế thu nhập cá nhân số 2906148702/22-TNCN/TB-CCT ngày 30/6/2022, đồng thời giao ông Nguyễn Văn T 02 thông báo trên để biết.

Ngày 21/02/2024 Chi cục thuế khu vực B – V có văn bản số 2793/CCTKV- KTNB về việc trả hồ sơ đề nghị xác định NVTC của ông Nguyễn Văn T cho Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B để xác định đầy đủ, rõ ràng đúng theo quy định tại khoản 41 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 63 của Nghị định số 43/2014/NĐ- CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Khi nào Văn phòng đăng ký đất đai chuyển lại hồ sơ có ghi đầy đủ thông tin, cụ thể rõ ràng thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai nhận đủ hồ sơ hợp lệ đúng theo quy định, Chi cục Thuế sẽ xác định lại nghĩa vụ tài chính và phát hành thông báo nộp thuế mới cho ông Nguyễn Văn T.

Ngày 23/02/2024 Chi cục thuế khu vực B – V đã trả hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính của ông Nguyễn Văn T cho Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B (kèm danh sách trả hồ sơ thiếu thông tin)

Ngày 02/6/2025 Đội thuế liên huyện B - V xác định lại nghĩa vụ tài chính và phát hành thông báo cụ thể như sau: Lệ phí trước bạ nhà đất; số LTB2571301- TK0019415/TB-ĐT-ĐT, số tiền: 25.977.240 đồng; Tiền SDĐ: số LTB2571301- TK0019417/TB-ĐT, số tiền: 2.595.510.000 đồng; Thuế TNCN: số LTB2571301- TK0019416/TB-ĐT, số tiền: 18.036.900 đồng. Các thông báo nêu trên Đội thuế liên huyện B - V đã gửi cho Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B qua hệ thống điện tử Đội thuế liên huyện B - V.

3. Ông Võ Văn V1 người đại diện theo ủy quyền của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ vắng mặt, theo văn bản ghi ý kiến ngày 09/5/2025 ông V1 trình bày:

Quá trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đối với thửa đất số 151 tờ bản đồ số 21 phường L: Ngày 19/4/2022 ông Nguyễn Văn T nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận) đối với thửa đất số 21 tờ bản đồ số 151 phường L tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thành phố B, mã hồ sơ số 000.00.22.H19-220419-0319 (thụ tục số 9). Theo hồ sơ ông Nguyễn Văn T cung cấp, thể hiện: Nguồn gốc sử dụng đất theo nội dung xét duyệt ngày 15/3/2022 của UBND phường L xác nhận: Đất do Kho K752- Tổng cục C quản lý, đã được UBND tỉnh Đ thu hồi và bàn giao cho UBND thành phố B quản lý tại Quyết định số 2931/QĐ-UBND ngày 13/09/2013. Trước đó Trung tâm C - Kinh tế cấp đất cho ông Nguyễn N theo Quyết định số 81/QĐ-CB ngày 10/02/1993 với diện tích 150m2. Ngày 15/04/1993 ông N chuyển nhượng (bằng giấy tay) cho bà Nguyễn Thị Như M. Năm 1994 bà M xây dựng nhà ở. Năm 2005 bà M chuyển nhượng (bằng giấy tay) cho ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H.

- Theo hiện trạng ông T và bà H đang sử dụng đất thuộc thửa đất số 21 tờ bản đồ số 151 phường L có diện tích 295,9 m2, tặng 145,9 m2 so với quyết định cấp đất trong đó có 72m2 là phần diện tích cắt theo chỉ giới cách mép đường B 10m theo Văn bản 124 ngày 07/04/1993 của Bộ T6 và 11,6 m2 là phần diện tích nằm trong quy hoạch đất giao thông còn lại. Phần diện tích tăng còn lại 62,3 m2 có vị trí ở phía sau thửa đất nguyên nhân khi giao đất đơn vị đo đạc không chính xác dẫn đến có sai sót, chủ sử dụng không lấn chiếm đất công, ranh giới vẫn giữ nguyên như thời điểm cấp đất, sử dụng cùng thời điểm được cấp đất đến nay không tranh chấp. Thửa đất không thuộc quỹ đất công do phường quản lý. Trên cơ sở xác nhận nguồn gốc đất của UBND phường L, Văn phòng Đ Chi nhánh B thẩm tra hồ sơ đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận. Ngày 27/5/2022 Phòng T7 lập Tờ trình số 2255/TTr- TNMT thể hiện “Căn cứ khoản 3 Điều 23 Nghị định 43/2014/NĐ- CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H với diện tích 212,3m2 trong đó 200m2 đất ở tại đô thị và 12,3m2 đất trồng cây lâu năm (phần diện tích còn lại 83,6m2 không xét công nhận quyền sử dụng đất do nằm trong quy hoạch đất giao thông) Việc lập Phiếu chuyển thông tin địa chính của Văn phòng Đ chi nhánh B được thực hiện sau khi tiếp nhận hồ sơ từ các cơ quan chuyển giao theo Điều 10 Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT: Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm lập Phiếu chuyển thông tin (bao gồm cả trường hợp hồ sơ người sử dụng đất nộp trực tiếp tại Văn phòng đăng ký đất đai và hồ sơ do các cơ quan quy định tại Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 2 Điều 2 Thông tư này chuyển đến). Chịu trách nhiệm về tính chính xác của các Thông tin ghi trên Phiếu chuyển thông tin địa chính. Căn cứ Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định về: Trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu và đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; xác nhận về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và tình trạng tranh chấp đất đai.

- Như vậy, việc Văn phòng Đ chi nhánh B ghi về nguồn gốc sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H đối với thửa đất số 21 tờ bản đồ số 151 là phù hợp với kết quả xét duyệt và niêm yết công khai của UBND phường L và căn cứ pháp lý đã được cơ quan Tài nguyên và Môi trường xác định.

Quá trình phối hợp với Chi cục Thuế khu vực B - V (nay là Đội thuế liên huyện B - V): Ngày 06/6/2022 Chi cục Thuế khu vực B - V xác định nghĩa vụ tài chính đối với hồ sơ ông Nguyễn Văn T tại Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất, đất số 0606148437/22-LPTB/TB-CCT, Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân số 0606148437/22-TNCN/TB-CCT, Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 0606148437/22-SDD/TB-CCT (số tiền 639.840.000 đồng). Ngày 16/6/2022 Chi cục Thuế khu vực B - V phát hành Thông báo số 12893/CCTKV-TBTK về việc hủy Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất, đất số 0606148437/22-LPTB/TB-CCT, Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân số 0606148437/22-TNCN/TB-CCT, Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 0606148437/22-SDD/TB-CCT ngày 06/6/2022 do Chi cục Thuế khu vực B - V đã phát hành. Lý do: nhầm lẫn về giá và thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính của hồ sơ ông Nguyễn Văn T cùng ngày 16/6/2022 Chi cục Thuế khu vực B - V có Văn bản số 12899/CCTKV-TBTK đề nghị Văn phòng Đăng ký bổ sung thông tin: Quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan có thẩm quyền hoặc Tờ trình thời điểm trình ký cấp Giấy chứng nhận của hồ sơ ông Nguyễn Văn T. Nội dung này, Văn phòng Đăng ký phúc đáp tại Văn bản số 3000/VPĐK.BH-ĐKTK ngày 28/6/2022 kèm Tờ trình số 2255/TTr-TNMT ngày 27/5/2022 của Phòng T7. Ngày 30/6/2022 Chi cục Thuế khu vực B - V xác định nghĩa vụ tài chính đối với hồ sơ ông Nguyễn Văn T tại Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất, đất số 2906148702/22-LPTB/TB-CCT, Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân số 2906148702/22-TNCN/TB-CCT, Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 2906148702/22-SDD/TB-CCT (số tiền 2.595.510.000 đồng) Ngày 03/11/2022 Chi cục Thuế khu vực B - V có Văn bản số Văn bản số 23430/CCTKV-TBTK đề nghị Văn phòng Đăng ký bổ sung thông tin: Thời điểm nhận đủ hồ sơ hợp lệ của hồ sơ đề nghị công nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 21 tờ bản đồ số 151 phường L. Ngày 02/12/2022 Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh B phúc đáp tại Văn bản số 6602/VPĐK.BH- ĐKCG cung cấp: Ngày 27/11/2014 ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị H kê khai đăng ký, cấp giấy chứng nhận thửa đất số 21 tờ bản đồ số 151 phường L; Ngày 19/4/2022 ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị H nộp hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ, QSHNO và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả thành phố.

- Chi cục thuế khu vực B - V tiếp tục có các văn bản (số 4553/CCTKV- TBTK ngày 17/3/2023, số 7381/CCTKV-TBTK ngày 18/4/2023) đề nghị Văn phòng Đ chi nhánh B cung cấp thông tin cùng một nội dung bổ sung thông tin: Thời điểm nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Căn cứ hồ sơ ông Nguyễn Văn T, Văn phòng Đ chi nhánh B phúc đáp tại các Văn bản (số 1658/VPĐK.BH-ĐKCG ngày 21/3/2023, số 2410/VPĐK.BH- ĐKCG ngày 24/4/2023) về thời điểm nộp hồ sơ đăng ký đất đai ngày 27/11/2014 và thời điểm nộp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thành phố ngày 19/4/2022. Ngày 10/01/2024 Chi cục thuế khu vực B - V phát hành Thông báo số 757/CCTKV-TBTK về việc hủy thông báo nộp tiền sử dụng đất số 2906148702/22-SDD/TB-CCT ngày 30/6/2022 do Chi cục thuế khu vực B - V đã phát hành.

- Đối với những vấn đề ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, Văn phòng Đ chi nhánh B sẽ tiếp nhận, giải quyết các trình tự tiếp theo.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H vắng mặt, theo bản tường trình ngày 12/5/2025 bà Trần Thị H trình bày:

Đối với các ý kiến và yêu cầu của ông T, cũng như người đại diện uỷ quyền, bà đã biết và đồng ý vì điều đó phù hợp với thực tế của vụ việc và các quy định pháp luật, bảo vệ cho quyền lợi chính đáng của gia đình bà.

Việc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai chi nhánh T đã có phiếu biên nhận hồ sơ đất của gia đình bà ngày 27/11/2014, có Phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính số 7808 ngày 30/5/2022 xác định ngày anh T nộp hồ sơ hợp lệ là 27/11/2014 sang cơ quan Thuế để tính thuế quyền sử dụng đất, là đúng trình tự thủ tục. Sau đó cơ quan T2 đã ra thông báo thuế lần một bà và ông T đã nộp đủ tiền, sau cơ quan Thuế ra thông báo lần 02 với số tiền khác chúng tôi không đồng ý nộp. Như vậy cơ quan Thuế đã xác định hồ sơ của bà và ông T đầy đủ thì mới ra thông báo thuế. Việc lấy lý do "... trả hồ sơ cho Văn phòng đăng ký đất đai... khi nào Văn phòng đăng ký đất đai chuyển lại hồ sơ có ghi đầy đủ thông tin, cụ thể rõ ràng thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai nhận đủ hồ sơ hợp lệ đúng quy định, Chi cục thuế sẽ xác định lại nghĩa vụ tài chính và phát hành thông báo thuế mới cho ông T" là sự vòng vo, né tránh trách nhiệm, tự mâu thuẫn và đùn đẩy của cơ quan Thuế. Vì vậy tôi không chấp nhận.

Sự thật bà và ông T hiểu là cơ quan thuế ngại trách nhiệm liên quan đến số tiền áp thuế chứ không phải là thành phần hồ sơ của bà và ông T không đầy đủ vì chỉ cần xem thành phần hồ sơ trên phiếu biên nhận hồ sơ và đối chiếu quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 11 Thông tư số 24 năm 2014 của Bộ T5 quy định: Cơ quan tiếp nhận hồ sơ thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận không được yêu cầu người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp thêm các giấy tờ khác ngoài các giấy tờ phải nộp theo quy định tại các Điều 8, 9 và 10 của Thông tư này.

Do đó bà đề nghị Toà án xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho gia đình bà.

Quyết định của Bản án sơ thẩm:

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2025/HC-ST ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai) đã căn cứ vào khoản 1, 2, 3, 8, 9, 10 Điều 3; Điều 6; khoản 1 Điều 30; Điều 31; Điều 53; Điều 60 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 3, 6, 30, 31, 38, 39, 53, 60, 116, 143, 144, 146, 158, 193, 194, 195, 204, 206, 211, 213, 215 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về yêu cầu buộc Chi cục trưởng Chi cục thuế khu vực B-V thực hiện hành vi ra thông báo nộp thuế đối với thửa đất số số 21, tờ bản đồ số 151, phường L, thành phố B.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với yêu cầu hủy thông báo số 12893/CCTKV-TBTK ngày 16/6/2022 của Chi cục trưởng Chi cục thuế khu vực B – V.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, người khởi kiện ông Nguyễn Văn T kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2025/HC-ST ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai).

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai) kháng nghị hủy toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2025/HC-ST ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai).

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng nghị và kháng cáo: Đề nghị chấp nhận một phần kháng nghị và kháng cáo của ông Nguyễn Văn T. Hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2025/HC-ST ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T làm trong thời hạn luật định, đóng tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo và nội dung kháng nghị:

Ông T quản lý sử dụng thửa đất số số 21, tờ bản đồ số 151 phường L từ ngày 02/3/2005 nguồn gốc nhận chuyển nhượng.

Ngày 27/11/2014, ông T đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Biên nhận hồ sơ số 2617/BNHS-VPĐK ngày 27/11/2014 (dạng kê khai đăng ký đất đai, Cán bộ VPĐKĐĐ chi nhánh B về địa phương hướng dẫn trực tiếp, tiếp nhận kê khai đăng ký).

Ngày 19/4/2022, ông T nộp hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của U.

Ngày 06/6/2022 Chi cục B phát hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 0606148437/22/SDĐ/TB-CCT với số tiền 639.840.000 đồng. Do phát hiện nhầm lẫn, ngày 16/6/2022 Chi cục B phát hành Thông báo số 12893/CCTKV-TBTK gửi VPĐKĐĐ chi nhánh B về việc hủy thông báo nộp thuế đã phát hành ngày 06/6/2022, yêu cầu VPĐKĐĐ xác định thời điểm Văn phòng nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Ngày 30/6/2022 Chi cục B xác định lại nghĩa vụ tài chính và phát hành thông báo mới, Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 2906148702/22/SDĐ/TB-CCT với số tiền 2.595.510.000 đồng, Lệ phí trước bạ 25.977.240 đồng, Thuế thu nhập cá nhân 18.036.900 đồng.

Ngày 10 và ngày 11/01/2024 Chi cục B đã ban hành Thông báo số 757/CCTKV-TBTK và Thông báo số 897/CCTKV-TBTK v/v Hủy thông báo nộp thuế về tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân ngày 30/6/2022.

Ngày 21/02/2024 Chi cục B có Văn bản số 2793/CCTKV-KTNB về việc trả hồ sơ cho Văn phòng Đ, đề nghị Văn phòng ghi đầy đủ thông tin, cụ thể rõ ràng thời điểm Văn phòng nhận đủ hồ sơ hợp lệ đúng theo quy định.

Ngày 02/6/2025 Đội thuế liên huyện B – V xác định lại nghĩa vụ tài chính và phát hành thông báo cụ thể như sau: Tiền SDĐ LTB2571301-TK0019417/TB- ĐT, số tiền 2.595.510.000 đồng; Lệ phí trước bạ nhà đất số LTB2571301- TK0019415/TB-ĐT/TB-ĐT, số tiền 25.977.240 đồng; Thuế TNCN số LTB2571301-TK0019416/TB-ĐT, số tiền 18.036.900 đồng.

Xét thấy:

1/ Về việc xác định các quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện:

Tại phiên tòa xét xử ngày 12/6/2025, đại diện theo ủy quyền của ông T nộp đơn khởi kiện bổ sung, yêu cầu Tòa hủy các Thông báo ngày 02/6/2025 của Đội thuế liên huyện B - V, gồm: Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2571301- TK0019417/TB-ĐT; Lệ phí trước bạ nhà đất số LTB2571301-TK0019415/TB- ĐT/TB-ĐT; Thuế thu nhập cá nhân số LTB2571301-TK0019416/TB-ĐT.

03 thông báo nộp thuế trên là kết quả của quá trình xét duyệt về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T. Việc ông T khởi kiện bổ sung 03 thông báo nộp thuế trên có mối quan hệ trực tiếp gắn liền với đối tượng khởi kiện ban đầu và là căn cứ phát sinh nghĩa vụ tài chính của người khởi kiện. Do đó, thuộc trường hợp Tòa án phải xem xét giải quyết trong cùng một vụ án hành chính được quy định tại Khoản 2 Điều 6 Luật Tố tụng hành chính.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng, yêu cầu bổ sung của ông T đối với 03 Thông báo nộp thuế trên vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên không xem xét về tính hợp pháp của các thông báo này đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và không đảm bảo việc giải quyết vụ án toàn diện, triệt để theo quy định tại Điều 193 Luật Tố tụng hành chính.

2/ Về xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị kiện:

Theo quy định tại Điều 18, 19 Luật Quản lý Thuế năm 2019 quy định về trách nhiệm nhiệm quyền hạn của cơ quan quản lý thuế; Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế thì việc xác định, ấn định thuế thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý thuế. Theo đó, chủ thể pháp lý ban hành quyết định hành chính về thuế là cơ quan thuế.

Trong vụ án này, các Thông báo nộp thuế bị khởi kiện do Chi cục Thuế khu vực B - V ban hành. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không xác định Chi cục Thuế khu vực B - V là Người bị kiện là không đúng quy định Khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính, dẫn đến việc xác định sai tư cách tham gia tố tụng của đương sự .

3/ Về việc thu thập chứng cứ và đưa người vào tham gia tố tụng:

Căn cứ khoản 41 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Khoản 4 Điều 63 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; điểm b.2 Khoản 6 Điều 10 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế như sau:

" Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất đối với trường hợp công nhận quyền sử dụng đất là thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế...Trường hợp Văn phòng đăng ký đất đai chuyển thông tin chậm hoặc cơ quan thuế chậm xác định nghĩa vụ tài chính thì thời điểm tính thu tiền sử dụng đất được xác định là thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai nhận đủ hồ sơ hợp lệ."

Trường hợp năm 2014 người sử dụng đất chỉ có biên nhận hồ sơ (xác nhận đã nộp giấy tờ, chưa có Phiếu tiếp nhận và hẹn trả kết quả) thì chưa đủ căn cứ xác định thời điểm tiếp nhận hồ sơ hợp lệ. Ngày 02 và 03/01/2020 UBND phường L đã thực hiện xác nhận và lập Danh sách công khai kết quả hộ ông Nguyễn Văn T đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (BL 131, 140). Do đó cần xác minh làm rõ, Văn phòng Đ chuyển thông tin thuộc trường hợp chậm trễ hay không, thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai nhận đủ hồ sơ hợp lệ là thời điểm nào (Năm 2000 Bảng giá đất giai đoạn 2020-2024 có hiệu lực).

Việc xác nhận nguồn gốc đất của UBND phường L (cũ) đã đầy đủ và đủ cơ sở để Cơ quan thuế áp dụng các quy định để tính thuế. Do đó, không cần thiết đưa U (cũ), nay là UBND phường L vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đối với nội dung đưa U vào tham gia tố tụng, tại phiên tòa VKSND rút phần nội dung kháng nghị này.

[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai. Đình chỉ một phần nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai.

Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T.

Hủy toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2025/HC-ST ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai).

2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

3. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Hoàn trả cho ông T số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0007702 ngày 15/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

Số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm quyết định khi vụ án được giải quyết lại.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND khu vực 1 – Đồng Nai;
  • - THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng THADS khu vực 1 – Đồng Nai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2026/HC-PT ngày 22/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế

  • Số bản án: 02/2026/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger