Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2026/LD-PT

Ngày: 03/02/2026

V/v: “Tranh chấp hợp đồng lao động”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như

Các Thẩm phán: Ông Nông Đức Thọ

Bà Tô Thị Thùy Ngân

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thủ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án lao động thụ lý số 01/2025/TLPT-LĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng lao động”.

Do bản án lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 16/2025/QĐ-PT ngày 25/12/2025; Thông báo hoãn phiên toà số 29/TB-TA ngày 10/01/2026; Thông báo hoãn phiên tòa số 34/TB-TA ngày 21/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nông Thị L – Sinh 1993

Trú tại: xóm B, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; Có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

- Ông Bùi Thiên Ầ – Luật sư của công ty L1 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: số E ngõ A, P. Pháo Đài L, P. L, TP Hà Nội; có mặt.

- Ông Lê Anh N – Luật sư của công ty L1 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: số E ngõ A, P. Pháo Đài L, P. L, TP Hà Nội; có mặt.

Bị đơn: Công ty cổ phần L1;

Địa chỉ: số G đường C, tổ A, phường N, tỉnh Cao Bằng.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn G – Giám đốc; vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Phạm Bích N1 – Sinh 1994

Địa chỉ: tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng; Theo văn bản ủy quyền ngày 23/01/2025, có mặt.

Người làm chứng:

- Bà Nông Thị Tuyết

Địa chỉ: đường C, tổ A, phường N, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

- Ông Phạm Quang Đ

Địa chỉ: đường C, tổ A, phường N, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

- Bà Nông Hải Y

Địa chỉ: đường C, tổ A, phường N, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

Người kháng cáo: Nguyên đơn Nông Thị L; bị đơn Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn bà Nông Thị L trình bày:

Bà là Bác sĩ Y học cổ truyền, chứng chỉ hành nghề: 028937/HNO-CCHN làm việc tại Bệnh viện L1 - Cao Bằng từ ngày 31/5/2021 (theo hợp đồng lao động số: 143/HĐLĐ – HNCB ngày 31/5/2021), loại hợp đồng lao động: không xác định thời hạn. Vì một số lý do cá nhân nên ngày 13/02/2025 bà nộp đơn xin nghỉ việc và được công ty chấp nhận. Ngày 13/02/2025, Công ty đã mở phiên họp với mục đích giải quyết yêu cầu xin nghỉ của bà nhưng trong cuộc họp chỉ có 3 nội dung chính như sau:

  1. Công ty thực hiện đúng theo nghĩa vụ Hợp đồng lao động;
  2. Nếu bác sĩ L nhất trí với điều khoản, nghĩa vụ hợp đồng, quy chế công ty thì sẽ giải quyết cho bác sĩ L theo quy định;
  3. Bác sĩ L không đồng ý đền bù theo cam kết và quy chế.

Đến ngày 25/3/2025, bà Nông Thị T - Trưởng phòng hành chính nhân sự gọi bà vào phòng làm việc gặp riêng và thông báo: Công ty đã đồng ý cho bà nghỉ việc nhưng bà đã vi phạm quy chế công ty nên phải hoàn thành nghĩa vụ với công ty là trả cho công ty D thì công ty mới trả sổ bảo hiểm, hoàn tất thanh toán các khoản lương, quyết định chấm dứt hợp đồng lao động cho bà. Bà T còn đe dọa nếu không đền bù thì sẽ treo bảo hiểm xã hội của bà, đưa tên của bà lên các trang mạng để các cơ sở y tế không nhận bà và làm bà không thể nào đăng ký thi lên chuyên khoa 1 trong tương lai.

Ngày 28/04/2025, Công ty Cổ phần L1 - Cao Bằng đã gửi Công văn số: 661/CV-HNCB tới Các Bệnh viện, đơn vị trực thuộc Bộ Y1, Sở y tế các tỉnh, thành phố, các Trường Đại học Y2, Trung tâm Y tế huyện, thị xã, thành phố, các cơ sở y tế ngoài công lập trên toàn quốc đề nghị không tiếp nhận, không tuyển dụng bà (với lý do bà chưa hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng) nhằm chặn mọi hoạt động hành nghề của bà.

Ngoài ra, khi làm việc tại Công ty Cổ phần L1 - Cao Bằng, bà còn phải làm việc ở phòng chụp máy X - Quang đo mật độ xương, thường xuyên tiếp xúc với môi trường có yếu tố bức xạ từ tháng 8/2021 đến khi nghỉ việc 3/2025. Tuy nhiên, Công ty không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đảm bảo an toàn lao động theo quy định của pháp luật và không trả phụ cấp độc hại cho bà. Vì vậy bà đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  1. Yêu cầu Tòa án công nhận việc chấm dứt hợp đồng lao động số 143/HĐLĐ – HNCB ngày 31/5/2021, yêu cầu Công ty L1 thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định: hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp đến ngày 26/3/2025 và trả lại bản chính giấy tờ đã giữ của bà là chứng chỉ đào tạo liên tục Đo cấu trúc khối cơ thể bằng phương pháp DEXA; cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc, xác nhận làm việc của bà.
  2. Buộc Công ty Cổ phần L1 - Cao Bằng trả cho bà số tiền phụ cấp độc hại vì đã làm việc trong môi trường có bức xạ tại phòng chụp Máy X-Quang đo mật độ xương tương đương 40% mức lương cơ sở vùng từ tháng 8/2021 đến 03/2025 với tổng số tiền 55.120.000đ.

Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: Bà Nông Thị L không nhất trí với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc đề nghị Toà án tuyên bố bà đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng vì bà không vi phạm thời gian báo trước, bản thân bà bị ép nghỉ trước thời hạn 45 ngày, cụ thể: từ ngày 24/3/2025 bà T – Trưởng phòng tổ chức hành chính đề nghị bà không được đến làm việc nữa nếu đến làm việc cũng sẽ không tính thời gian làm việc và trả lương. Bà vẫn đi làm tại phòng loãng xương thì bị ông Đ – Trưởng khoa cận lâm sàng đã nói với từ nay không được ngồi ở đây nữa và khóa cửa phòng. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/3/2025 bà gặp bà Y – Phó giám đốc bệnh viện để trao đổi thì bà Y đề nghị bà đi về nhà, chuẩn bị 400.000.000đ thì công ty sẽ giải quyết chế độ. Vì phía công ty nói như vậy nên sau ngày 26/3/2025 bà không đến bệnh viện nữa.

Đối với yêu cầu hoàn trả cho Công ty T1 chi phí Công ty hỗ trợ cho bà tham gia khóa đào tạo bà chỉ nhất trí khi công ty cung cấp toàn bộ giấy tờ chứng minh các khoản tiền yêu cầu. Đối với yêu cầu bồi thường số tiền 100.000.000₫ do vi phạm thời hạn cam kết làm việc sau khi hoàn thành khóa đào tạo và yêu cầu bà hoàn trả số tiền 247.620.914₫ do vi phạm thời hạn cam kết làm việc theo quy định tại Quy chế chi tiêu nội bộ của Công ty bà không nhất trí.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn trình bày:

Ngày 31/5/2021 Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng với bà Nông Thị L đã ký kết Hợp đồng lao động số 143/HĐLĐ-HNCB, loại hình hợp đồng không xác định thời hạn bắt đầu tính từ ngày 01/6/2021. Sau khi ký kết hợp đồng bà L làm việc với chức danh Bác sỹ y học cổ truyền, công tác tại khoa khám bệnh - Bệnh viện L1 - Cao Bằng trực thuộc Công ty. Từ khi làm việc tại Bệnh viện bà L đã được Công ty thông báo đầy đủ về nội quy, quy chế tại nơi làm việc của Công ty.

Ngày 16/8/2021, giữa Công ty với bà L ký kết Hợp đồng đào tạo có nội dung thỏa thuận: Công ty sẽ liên hệ và cung cấp khóa đào tạo kỹ năng chuyên môn cho bà L, đồng thời Công ty sẽ có trách nhiệm đầu tư về thời gian học tập nghiên cứu, hỗ trợ các chi phí tham dự khóa đào tạo còn bà L cam kết sẽ làm việc tại Công ty sau khi được đào tạo ít nhất là 05 năm và có nghĩa vụ bồi hoàn cho Công ty toàn bộ chi phí đào tạo nếu vi phạm.

Ngày 01/10/2021, bà L đã tự nguyện ký “Bản cam kết phục vụ lâu dài tại công ty” với nội dung cam kết sẽ làm việc tại công ty A năm và chấp hành nội quy, quy chế của Công ty nếu vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm bồi hoàn toàn bộ chi phí đào tạo và các chi phí khác của Công ty nên Công ty đã chấp nhận chi trả thêm cho bà L các khoản chi phí ngoài lương đã được thỏa thuận tại hợp đồng, cụ thể: tiền tư vấn chẩn đoán hình ảnh, tiền thưởng năng suất, tiền thưởng doanh thu, tiền ăn ca, tiền hỗ trợ điện thoại, tiền hỗ trợ xăng xe, tiền phụ cấp vệ sinh phụ nữ.

Ngày 13/2/2025 Bà L gửi đơn xin nghỉ việc đến Công ty, vì bà L muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn theo cam kết tại “Hợp đồng đào tạo” và “Bản cam kết phục vụ lâu dài tại công ty” nên ngày 13/2/2025 Công ty đã họp trao đổi, làm việc với bà L để giải quyết, trong quá trình trao đổi Công ty đề nghị để thực hiện thủ tục chấm dứt hợp động thì bà L cần có trách nhiệm bồi thường chi phí đào tạo và các chi phí khác theo quy định mà bà L cam kết, tuy nhiên bà L không nhất trí. Bà L làm việc đến hết ngày 24/3/2025 thì nghỉ việc tại Công ty dẫn đến hiện nay việc thực hiện các thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động giữa bà L với Công ty chưa hoàn thành. Đối với các yêu cầu khởi kiện của bà Nông Thị L, Công ty có ý kiến như sau:

  1. Về yêu cầu công nhận việc chấm dứt hợp đồng lao động số 143/HĐLĐ-HNCB ngày 31/5/2021: Bà L có đơn xin nghỉ việc từ ngày 13/2/2025 làm việc đến hết ngày 24/3/2025, từ thời điểm bà L thông báo cho công ty đến ngày nghỉ việc chính thức là 40 ngày vi phạm thời gian báo trước ít nhất 45 ngày đối với trường hợp làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật nên bà L phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 40 Bộ Luật lao động, nay bà L chưa thực hiện các nghĩa vụ trên nên Công ty chưa thực hiện theo các quy định tại Điều 48 Bộ luật lao động.
  2. Về yêu cầu buộc Công ty phải trả cho bà L số tiền phụ cấp độc hại từ tháng 08/2021 đến tháng 03/2025 với tổng số tiền là 55.120.000đ, Công ty không nhất trí bởi: Các chế độ tiền lương, phụ cấp, trợ cấp đã được Công ty và bà L thỏa thuận cụ thể tại Hợp đồng lao động số 143/HĐLĐ-HNCB ngày 31/5/2021 và Công ty đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với bà L được thỏa thuận tại hợp đồng, trong Hợp đồng lao động giữa Công ty và bà L không có nội dung thỏa thuận về việc Công ty sẽ chi trả phụ cấp độc hại trong quá trình bà L làm việc tại công ty. Tại Thỏa ước lao động tập thể được ký kết giữa Công ty với tập thể người lao động cũng không có thỏa thuận về hưởng phụ cấp độc hại. Quy định về hưởng phụ cấp độc hại tương đương 40% mức lương cơ sở là quy định được áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước theo Thông tư số 07/2005/TT-BNV ngày 05/01/2005 của Bộ N2, còn giữa Công ty với bà L là quan hệ người sử dụng lao động và người lao động nên không áp dụng quy định này. Do đó, Công ty không có nghĩa vụ phải trả cho bà L tiền phụ cấp độc hại với tổng số tiền là 55.120.000 đồng.

Việc bà L vi phạm về thời hạn cam kết làm việc theo thỏa thuận giữa hai bên khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên theo quy định tại Điều 4 Hợp đồng đào tạo, theo nội dung cam kết của bà L tại “Bản cam kết phục vụ lâu dài tại công ty” và quy định tại Điều 16 Quy chế chi tiêu nội bộ của công ty thì bà L có nghĩa vụ phải hoàn trả cho Công ty toàn bộ chi phí công ty đã hỗ trợ trong khóa đào tạo lấy chứng chỉ của bà L là 03 tháng (từ ngày 18/9/2021 đến ngày 12/12/2021) gồm: Tiền học phí là: 15.000.000đ, tiền lương là 15.292.369đ, tiền công ty Đ1 là 2.499.956₫ (21,5% mức lương đóng Bảo hiểm xã hội), theo quy định tại Điều 16.1 Quy chế chi tiêu nội bộ của công ty bà L phải bồi thường cho Công ty số tiền là 100.000.000đ.

Bên cạnh đó, bà L đã ký cam kết làm việc tại công ty là 10 năm nên theo quy định tại Điều 16.3 Quy chế chi tiêu nội bộ của công ty bà L phải hoàn trả số tiền 400.000.000đ đối với vị trí việc làm là Bác sỹ, tuy nhiên thực tế hiện nay Công ty chỉ yêu cầu bà L phải hoàn trả cho Công ty các khoản thu nhập ngoài lương được chi trả khi tự nguyện ký kết “Bản cam kết phục vụ lâu dài tại công ty” với tổng số tiền là: 247.620.914đ (gồm các khoản tiền như: tiền tư vấn chẩn đoán hình ảnh là: 8.815.000.000đ; tiền thưởng năng suất là: 33.720.100đ; tiền thưởng doanh thu: 110.761.544đ; tiền ăn ca: 25.497.115đ; tiền hỗ trợ điện thoại: 21.262.354đ; tiền hỗ trợ xăng xe: 15.070.654đ; tiền trang phục 5.400.000đ, tiền phụ cấp vệ sinh phụ nữ: 660.000₫).

Bà L đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật mà không chấp nhận hoàn trả, bồi thường các khoản chi phí trên cho Công ty là làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công ty. Do vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Công ty có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  1. Yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nông Thị L đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng. Buộc bà L thực hiện các nghĩa vụ khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, cụ thể:
    • - Bồi thường cho Công ty ½ tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động với số tiền là 2.315.800đ và bồi thường tiền lương theo Hợp đồng trong 05 ngày không báo trước (từ ngày 25/3/2025 đến ngày 29/3/2025) là 890.692đ (Tiền lương 01 tháng đóng Bảo hiểm xã hội của bà L là 4.631.600₫);
    • - Hoàn trả cho Công ty T1 chi phí Công ty hỗ trợ cho bà L tham gia khóa đào tạo gồm: tiền học phí là 15.000.000đ, tiền lương là 15.292.369đ, tiền đóng Bảo hiểm xã hội là 2.499.956đ và bồi thường cho Công ty số tiền 100.000.000₫ do vi phạm thời hạn cam kết làm việc sau khi hoàn thành khóa đào tạo theo quy định tại Điều 16.1 Quy chế chi tiêu nội bộ của Công ty.
  2. Yêu cầu bà Nông Thị L hoàn trả cho Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng số tiền 247.620.914₫ do vi phạm thời hạn cam kết làm việc theo quy định tại Quy chế chi tiêu nội bộ của Công ty.

Tổng cộng các khoản tiền Công ty yêu cầu bà L bồi thường, hoàn trả là: 383.619.731₫ (Ba trăm tám mươi ba triệu sáu trăm mười chín nghìn bảy trăm ba mươi mốt đồng).

Tại kết luận thanh tra chuyên ngành số 14/KL-TTr ngày 29/4/2025 của Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh C kết luận về những tồn tại, hạn chế về an toàn bức xạ trong lĩnh vực y tế đối với Công ty cổ phần L1 kết luận:

“- Không thực hiện thủ tục khai báo thiết bị bức xạ theo Điều 72 Luật Năng lượng nguyên tử và điểm b khoản 1 Điều 34 Nghị định số 142/2020/NĐ-CP ngày 09/12/2020 của Chính phủ quy định về việc tiến hành công việc bức xạ và hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử.

- Không bảo đảm điều kiện làm việc an toàn cho nhân viên bức xạ. Cụ thể như sau:

  • + Không trang bị liều kế cá nhân và đọc liều chiếu xạ cho nhân viên bức xạ Nông Thị L. Đây là hành vi trái với quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 07/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ và điểm a khoản 1 Điều 16 Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT (sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 13/2018/TT-BKHCN).
  • + Không tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho nhân viên bức xạ Nông Thị L các năm 2021, 2022, 2023, 2024. Đây là hành vi trái với quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 07/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ và điểm a khoản 1 Điều 16 Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT (sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 13/2018/TT-BKHCN).
  • + Không lưu giữ hồ sơ sức khoẻ của nhân viên bức xạ Nông Thị L. Đây là hành vi trái với quy định tại đểm d khoản 1 Điều 29 Luật Năng lượng nguyên tử và Điều 24 Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT (sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 13/2018/TT-BKHCN).
  • + Không có bản hướng dẫn sử dụng liều kế cá nhân gắn tại nơi làm việc của nhân viên bức xạ (tại phòng chụp Máy X – quang đo mật độ xương). Đây là hành vi trái với quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 16 Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT (sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 13/2018/TT-BKHCN).
  • + Để nhân viên bức xạ y tế là nữ (bà Nông Thị L) làm việc liên quan đến bức xạ trong thời gian đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Đây là hành vi trái với quy định tại khoản 1 Điều 13 Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT (sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 13/2018/TT-BKHCN).
  • + Hàng năm, không tổ chức huấn luyện cho các nhân viên bức xạ y tế về nội quy an toàn bức xạ, quy định của cơ sở liên quan đến bảo đảm an toàn bức xạ, quy trình ứng phó sự cố bức xạ hoặc phổ biến các quy định mới, các thông tin mới về bảo đảm an toàn bức xạ. Đây là hành vi trái với quy định tại khoản 3 Điều 14 Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT (sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 13/2018/TT-BKHCN).
  • - Chưa mua bảo hiểm nghề nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho nhân viên bức xạ theo quy định tại khoản 1 Điều 90 Luật năng lượng nguyên tử. Nguyên nhân do Công ty chưa tìm được đơn vị cung cấp dịch vụ này”.

Công văn số 1783/SKHCN-VP ngày 04/8/2025 của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh C xác nhận Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng đã bị xử phạt hành chính theo Quyết định xử phạt hành chính số 13/QĐ-XPHC ngày 29/4/2025, tổng mức tiền phạt là 21.000.000đ và Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng đã tiến hành nộp phạt.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, những người làm chứng khai:

Người làm chứng Nông Thị T trình bày: bà là Trưởng phòng tổ chức hành chính quản trị công ty cổ phần L1 – Cao Bằng, ngày 24/3/2025 bà không được gọi bà L lên làm việc và từ trước đến nay trong tất cả các nội dung làm việc giữa bà và bà L không có nội dung nào yêu cầu bà L nghỉ việc không theo ý muốn của bà L.

Ông Phạm Quang Đ – Trưởng khoa cận lâm sàng thuộc Bệnh viện L1 - Cao Bằng trình bày: bà L không thuộc biên chế của khoa, khi có bệnh nhân đến khám thì bác sĩ L sẽ đến làm việc ở phòng đo loãng xương, còn phòng làm việc của bác sĩ L ở khoa y học cổ truyền ngoại trú. Trong khoảng thời gian bác sĩ L chuẩn bị nghỉ việc, khi phòng loãng xương không có bệnh nhân ông đã đề nghị đóng cửa phòng loãng xương, khi nào có bệnh nhân mới mở cửa chứ không phải đuổi không cho bác sĩ L vào phòng làm việc.

Bà Nông Hải Y trình bày: bà là Phó Giám đốc Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng, từ trước đến nay bà không làm việc trực tiếp với nhân viên, trường hợp của bác sĩ L bà được trao đổi trực tiếp về xét thưởng và khuyên bác sĩ L đi làm chứ không bao giờ nói bác sĩ L nghỉ việc.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn xác nhận yêu cầu khởi kiện là công nhận việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật và bổ sung yêu cầu: buộc Công ty cổ phần Bệnh viện L1 - Cao Bằng bồi thường danh dự, nhân phẩm là 10 tháng lương cơ sở; yêu cầu về trợ cấp thôi việc 2 tháng tiền lương và trợ cấp thất nghiệp 4 tháng. Ngoài ra nguyên đơn nhất trí hoàn trả chi phí đào tạo là 15.000.000đ và trình bày ngày 10/02/2025 đã nộp đơn xin nghỉ việc nhưng phía công ty không chấp nhận yêu cầu sửa đơn đến ngày 13/02/2025 mới nộp lại đơn.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chuyển hồ sơ cho Cơ quan cảnh sát điều tra để xử lý về hành vi cưỡng đoạt tài sản và vi phạm quy định về quản lý chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân của Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn đề nghị thay đổi số tiền yêu cầu bà L phải hoàn trả do vi phạm hợp đồng đào tạo tương đương 86 ngày lương là 12.820.284₫.

Tại bản án số 01/2025/LĐ-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cao Bằng đã Căn cứ Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 18, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 34, Điều 35, Điều 39, Điều 40, Điều 45, Điều 46, Điều 48 và Điều 62 của Bộ luật lao động;

  • - Căn cứ Điều 4, Điều 46 Luật việc làm 2013;
  • - Căn cứ Điều 85, Điều 86 Luật bảo hiểm xã hội
  • - Căn cứ Điều 584; Điều 585 và Điều 592 của Bộ luật dân sự.
  • - Áp dụng Điều 32, Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 229; Điều 244; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng Điều 12, khoản 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng thực hiện trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động.

    Buộc Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng thực hiện thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho bà Nông Thị L đến ngày 25/3/2025. Trả lại cho bà Nông Thị L bản chính chứng chỉ Đo cấu trúc cơ thể bằng phương pháp DEXA. Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của bà Nông Thị L.

    Công ty cổ phần Bệnh viện L1 - Cao Bằng có trách nhiệm thu hồi công văn số 661/CV-HNCB ngày 28/4/2025 về việc đề nghị không tiếp nhận, hợp đồng và tuyển dụng đối với Bác sĩ chưa hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng.

  2. Không chấp nhận yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với việc công nhận bà Nông Thị L đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 143/HĐLĐ – HNCB ngày 31/5/2021 đối với Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng đúng pháp luật và không chấp nhận yêu cầu của bà Nông Thị L về việc buộc Công ty cổ phần L1 Cao Bằng trả số tiền 55.120.00₫ phụ cấp độc hại, trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp và số tiền bồi thường danh dự, uy tín.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của của bị đơn: Tuyên bố việc bà Nông Thị L đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 143/HĐLĐ – HNCB ngày 31/5/2021 đã ký với Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng là trái pháp luật.

    Buộc bà Nông Thị L thực hiện các nghĩa vụ khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, cụ thể: Bồi thường cho Công ty ½ tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động với số tiền là 2.315.800đ và Bồi thường tiền lương theo Hợp đồng trong 04 ngày không báo trước (từ ngày 26/3/2025 đến ngày 29/3/2025) là 712.455₫.

    Không chấp nhận yêu cầu buộc bà Nông Thị L bồi thường tiền lương theo Hợp đồng đối với ngày 25/3/2025 tương đương 178.138đ.

  4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng về việc buộc bà Nông Thị L hoàn trả lại chi phí đào tạo.

    Buộc bà Nông Thị L hoàn lại chi phí đào tạo cho Công ty cổ phần L1 gồm học phí 15.000.000đ; tiền lương trong thời gian đi học vẫn được hưởng lương tương đương 7 ngày với số tiền 933.943đ.

    Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng về việc buộc bà Nông Thị L hoàn trả lại tiền lương trong thời gian đi học với số tiền 11.886.341đ và số tiền đóng bảo hiểm xã hội là 2.499.956đ.

  5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng về việc buộc bà Nông Thị L phải bồi thường hợp đồng đào tạo với số tiền 100.000.000 đồng
  6. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng về việc buộc bà Nông Thị L phải hoàn lại số tiền 247.620.914đ do vi phạm cam kết làm việc.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/10/2025 nguyên đơn Nông Thị L có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Ngày 10/10/2025 bị đơn Công ty cổ phần Bệnh viện L1 - Cao Bằng có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn Nông Thị L trình bày: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án lao động sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc nguyên đơn đơn phương chấp dứt hợp đồng lao động là đúng pháp luật; Buộc công ty phải trả cho nguyên đơn 55.120.000đ tiền phụ cấp độc hại, trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp...

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại cấp sơ thẩm, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn sửa một phần bản án lao động sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:

Đối với việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của nguyên đơn: Công ty B công việc không đáp ứng điều kiện theo hợp đồng, bố trí công việc không đúng chuyên môn, bệnh viện cung cấp thông tin không đúng sự thật, thoả thuận với nguyên đơn rằng cho nguyên đơn đi học về sẽ bố trí công việc đọc kết quả chụp phim nhưng khi về lại bố trí công việc khác không đúng với thoả thuận; công ty vi phạm Bộ luật lao động được quy định tại điều 6, không thực hiện mua bảo hiểm theo quy định, bộ phận nhân sự đã đồng ý cho bà L nghỉ việc nên bà L mới nghỉ. Do đó việc nguyên đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là đúng quy định của pháp luật.

Đối với nội dung yêu cầu bồi thường chi phí đào tạo: Công ty yêu cầu bà L phải bồi thường chi phí đào tạo là 100 triệu, nhưng thực tế bà L chỉ đi học thực tế 7 ngày; Bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải bồi thường số tiền 247.620.914đ, xét về lỗi thì cả 2 bên đều có lỗi, nhưng công ty vẫn vi phạm lỗi nhiều hơn, công ty đã ký lùi thời gian về thoả ước lao động tập thể, ngoài ra còn có nhiều sai phạm khác mà công ty đã vi phạm. Do đó kiến nghị Hội đồng xét xử chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để xem xét các sai phạm của công ty. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm:Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua phần tranh luận tại phiên tòa hôm nay, xét thấy không có căn cứ chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm số sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện và tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý, xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập, giao nộp chứng cứ và hòa giải, trình tự và thủ tục phiên tòa sơ thẩm. Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định, thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm; Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí và biên lai cho Tòa án nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo và căn cứ kháng cáo của nguyên đơn:

[2.1] Xét kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận bà Nông Thị L đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 143/HĐLĐ – HNCB ngày 31/5/2021 đối với Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng là đúng pháp luật.

Tại đơn kháng cáo, bà L căn cứ điểm a, Khoản 2, Điều 35 Bộ luật Lao động quy định về việc người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được đảm bảo điều kiện làm việc theo thỏa thuận. Việc đó đã được kết luận rất cụ thể trong bản kết luận thanh tra số 14/KL-TTr ngày 29/4/2025. HĐXX nhận thấy, tại hợp đồng lao động số 143/HĐLĐ-HNCB ký kết giữa người lao động là bà Nông Thị L và đơn vị sử dụng lao động Công ty cổ phần L1 - Cao Bằng không có nội dung thỏa thuận cụ thể các điều kiện làm việc, do đó nguyên đơn cho rằng căn cứ vào Khoản 2 Điều 35 Bộ Luật Lao động là không có căn cứ.

Tại điều 35 Bộ luật lao động quy định:

“1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp động lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a, Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạ..."

Ngày 13/2/2025 Nguyên đơn thông báo chấm dứt hợp đồng lao động đến ngày 26/3/3025 nguyên đơn nghỉ việc. Như vậy thời gian không đủ 45 ngày báo trước nên nguyên đơn yêu cầu công nhận việc nguyên đơn đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động với Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng đúng pháp luật là không có căn cứ để chấp nhận.

[2.2] Xét kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Nông Thị L về việc buộc Công ty cổ phần L1 Cao Bằng trả số tiền 55.120.00đ phụ cấp độc hại, trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp và số tiền bồi thường danh dự, uy tín”.

Hội đồng xét xử xét thấy,bà Nông Thị L và Công ty ký hợp đồng theo loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Theo Điều 21 Bộ luật Lao động quy định tiền lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác là nội dung do các bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Tại Hợp đồng lao động số 143/HĐLĐ - HNCB ngày 31/5/2021 và các phụ lục kèm theo, các bên không có thỏa thuận về việc chi trả phụ cấp độc hại; thỏa ước lao động tập thể của Công ty cũng không quy định chế độ này. Mức phụ cấp độc hại bằng 40% mức lương cơ sở mà bà L yêu cầu là chế độ áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức theo Thông tư số 07/2005/TT-BNV ngày 05/01/2005 của Bộ N2, không áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng trong doanh nghiệp. Mặc dù kết luận thanh tra chuyên ngành xác định Công ty có vi phạm các quy định về an toàn bức xạ và đã bị xử phạt hành chính, nhưng đây là căn cứ xử lý vi phạm hành chính, không làm phát sinh đương nhiên nghĩa vụ chi trả phụ cấp độc hại theo mức nêu trên trong quan hệ lao động khi pháp luật không có quy định bắt buộc và giữa các bên không có thỏa thuận. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của bà L là có căn cứ.

Đối với yêu cầu hưởng trợ cấp thôi việc, theo Điều 46 Bộ luật Lao động, người lao động không được hưởng trợ cấp thôi việc trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Đối với yêu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo Điều 49 Luật Việc làm quy định điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp là người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp. Do bà Nông Thị L đã bị xác định là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, nên không đủ điều kiện hưởng các khoản trợ cấp nêu trên. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận các yêu cầu này là đúng quy định pháp luật.

Đối với yêu cầu bồi thường danh dự, uy tín, theo các Điều 584 và 592 Bộ luật Dân sự 2015, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có đầy đủ căn cứ về hành vi trái pháp luật dẫn đến thiệt hại thực tế. Trong vụ án này, bà L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế về danh dự, uy tín cũng như mức độ tổn thất tinh thần do hành vi của Công ty gây ra theo quy định pháp luật. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu bồi thường danh dự, uy tín của bà L là có căn cứ.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX nhận thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.

[3] Xét nội dung kháng cáo và căn cứ kháng cáo của bị đơn công ty cổ phần L1 – Cao Bằng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc bà Nông Thị L phải bồi thường hợp đồng đào tạo với số tiền 100.000.000 đồng và buộc bà Nông Thị L phải hoàn lại số tiền 247.620.914 đồng do vi phạm cam kết làm việc.

Đối với yêu cầu bồi thường hợp đồng đào tạo số tiền 100.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy qua các tài liệu trong hồ sơ thể hiện hợp đồng đào tạo ngày 16/8/2021 giữa các bên không có thỏa thuận về khoản bồi thường này, hợp đồng lao động cũng không dẫn chiếu áp dụng Quy chế chi tiêu nội bộ của Công ty. Quy chế chi tiêu nội bộ được ban hành theo Quyết định số122/QĐ-HNCB ngày 05/4/2021 chỉ là văn bản quản lý nội bộ, không thể hiện có sự thỏa thuận của người lao động. Pháp luật lao động không cho phép áp dụng chế tài phạt vi phạm trong quan hệ lao động ngoài trường hợp bồi thường chi phí đào tạo theo Điều 62 Bộ luật Lao động. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị đơn đối với khoản tiền 100.000.000 đồng là không có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu buộc bà Nông Thị L hoàn trả số tiền 247.620.914 đồng do vi phạm cam kết làm việc lâu dài, Hội đồng xét xử xét thấy các khoản tiền mà bị đơn yêu cầu hoàn trả đều là tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp và các khoản hỗ trợ đã được chi trả trong quá trình bà L thực hiện công việc. Thực tế, trước thời điểm ký “Bản cam kết phục vụ lâu dài tại công ty” ngày 01/10/2021, bà L đã được hưởng các khoản thu nhập này, chứng tỏ đây không phải là quyền lợi phát sinh từ cam kết. Bộ luật Lao động không quy định việc người sử dụng lao động được thu hồi tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập hợp pháp của người lao động do không tiếp tục làm việc đủ thời gian cam kết. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo của bị đơn đối với khoản tiền 247.620.914 đồng là không có căn cứ.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Đối với ý kiến của Luật sư, kiến nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra xem xét hành vi sai phạm của của Bệnh viện trong công tác đào tạo. Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà nguyên đơn trình bày đã gửi đơn đến cơ quan điều tra để xem xét hành vi sai phạm của bệnh viện, do đó Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không xem xét đối với kiến nghị của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Quan điểm của viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[4] Về án phí phúc thẩm: Theo quy định của pháp luật, kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn không được chấp nhận thì phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên Nguyên đơn Nông Thị L thuộc trường hợp người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và có đơn xin miễn án phí phúc thẩm, thuộc trường hợp được miễn án phí theo điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị đơn Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a Khoản 1, Điều 12 và Khoản 1, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nông Thị L.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng.

Tuyên xử:

1.Giữ nguyên phần [2] phần [5] và phần [6] tại quyết định Bản án lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng.

Các quyết định khác tại bản án sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

2. Về án phí:

Nguyên đơn Nông Thị L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Bị đơn Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm để sung công quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, Công ty cổ phần L1 – Cao Bằng được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000154 ngày 14/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng. Xác nhận bị đơn đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - TAND khu vực 1 - Cao Bằng;
  • - THADS tỉnh Cao Bằng;
  • - Phòng THADS Khu vực 1 - Cao Bằng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tòa Dân sự.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2026/LD-PT ngày 03/02/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tranh chấp hợp đồng lao động

  • Số bản án: 01/2026/LD-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng lao động
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/02/2026
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nông Thị L - Công ty Bệnh viện HNCB
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger