TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐỒNG NAI Bản án số: 01/2026/DS-ST Ngày 16-01-2026 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Phạm Văn Sơn.
- Hoàng Luật.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 271/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 474/2025/QĐST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Bà Hà Thị T, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai.
Đồng bị đơn: Ông Đào Văn D, sinh năm 1973.
Bà Ngô Thanh K, sinh năm 1975.
Cùng địa chỉ: Số A, tổ C, ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/10/2025, bản tự khai, nguyên đơn bà Hà Thị T trình bày:
Bà và vợ chồng ông D- bà K là người quen biết với nhau. Vào ngày 23/01/2020 (tức ngày 29 tết âm lịch) vợ chồng ông D- bà K có mượn của bà số tiền 235.000.000đồng để đầu tư mở rộng quán ăn và cam kết sẽ hoàn trả trong thời gian sớm nhất. Hai bên có lập giấy vay tiền đề ngày 23/01/2020 nội dung “ông Đào Văn D và bà Ngô Thanh K vay của chị T số tiền 235.000.000đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng), hằng ngày đóng lãi 170.000đồng, khi nào có bao nhiêu thì trả bấy nhiêu, cam kết thực hiện đúng, nếu sai chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền thì ông D- bà K không trả bất cứ khoản lãi nào như cam kết cũng không trả tiền gốc. Bà đã nhiều lần liên hệ yêu cầu ông D- bà K trả tiền nhưng ông bà cố tình trốn tránh, không nghe điện thoại, không gặp mặt. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đào Văn D và bà Ngô Thanh K có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho bà số tiền vay gốc là 235.000.000đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng) và không yêu cầu tiền lãi. Do bà bận công việc nên yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
- Đối với đồng bị đơn ông Đào Văn D và bà Ngô Thanh K: Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông bà không có ý kiến và văn bản gửi cho Tòa án trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Đồng bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về xác định tư cách đương sự, quan hệ pháp luật, thời hạn xét xử, thu thập thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng, giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc đồng bị đơn phải hoàn trả số tiền nợ gốc 235.000.000đồng cho nguyên đơn.
Về án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Đồng bị đơn ông Đào Văn D và bà Ngô Thanh K có hộ khẩu thường trú tại tổ C, ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đồng Nai theo quy định tại theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 1 Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025.
- Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu đồng bị đơn trả số tiền đã vay theo Giấy mượn tiền ngày 23/01/2020 nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về xác định tư cách đương sự: Bà Hà Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông D, bà K có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc đã vay cho bà T, vì vậy xác định bà T là nguyên đơn; ông D, bà K là đồng bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thủ tục tố tụng: Đồng bị đơn ông D, bà K đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đồng bị đơn.
- Về đường lối giải quyết vụ án:
Bà T xác định có cho ông D, bà K vay số tiền 235.000.000đồng. Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, bà T cung cấp bản chính Giấy vay tiền đề ngày 23/01/2020 có chữ ký và ghi họ tên Đào Văn D, Ngô Thanh K.
Đồng bị đơn ông D, bà K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ làm việc nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do; không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đồng bị đơn về việc chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ kèm theo trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Xét thấy, nguyên đơn đã cung cấp chứng cứ chứng minh số tiền cho vay và thời gian vay; được ông D, bà K thừa nhận tại Giấy vay tiền ngày 23/01/2020. Nguyên đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ chứng minh của mình theo Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng bị đơn đã được Tòa án thông báo đầy đủ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không nộp văn bản trình bày ý kiến; không cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh, nên có đủ căn cứ khẳng định đồng bị đơn không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu của nguyên đơn đưa ra theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, yêu cầu của bà T về việc buộc ông D – bà K có trách nhiệm thanh toán cho bà T số tiền vay gốc 235.000.000đồng là có căn cứ chấp nhận.
Tại bản trình bày ý kiến đề ngày 07/01/2026, nguyên đơn bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tiền lãi do đó Tòa án không xem xét, giải quyết đối với tiền lãi.
- Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, đồng bị đơn không thuộc các trường hợp miễn, giảm tiền án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, nên đồng bị đơn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 11.750.000 đồng.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là 5.875.000 đồng.
- Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên chấp nhận.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 351, 463, 465, 466 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Đào Văn D và bà Ngô Thanh K có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Hà Thị T số tiền 235.000.000đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Buộc Đào Văn D và bà Ngô Thanh K liên đới chịu 11.750.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí DSST.
Hoàn trả cho bà Hà Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.875.000 đồng (Năm triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0007451 ngày 11/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiện thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Thái |
Bản án số 01/2026/DS-ST ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 01/2026/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn Hà Thị T và bị đơn Đào Văn D, Ngô Thanh K
