Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 11 - 2025

V/v: Không công nhận quan hệ

vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lò Thị Minh.
  2. Bà Nguyễn Thị Yên.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quang Huy, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phàng Thị C, sinh năm 1987. Địa chỉ: Bản N, xã C, tỉnh Sơn La; có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Sồng A N, sinh năm 1983. Nơi đăng ký thường trú: Bản N, xã C, tỉnh Sơn La. Hiện đang chấp hành án tại Đội 30, phân trại I, Trại giam Y, có trụ sở tại bản N, xã P, tỉnh Sơn La; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2025, biên bản lấy lời khai ngày 28/10/2025 và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phàng Thị C trình bày như sau:

Chị Phàng Thị C và anh Sồng A N tự nguyện về sống chung với nhau từ năm 2003, khi về ở với nhau chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của người dân tộc Mông, không đi đăng ký kết hôn ở Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật.

Sau khi về ở với nhau, chị Phàng Thị C và anh Sồng A N có 02 con chung là cháu Sồng A T, sinh ngày 02/02/2004 và cháu Sồng A S, sinh ngày 06/06/2005. Đến năm 2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do năm 2012 anh Sồng A N có hành vi vi phạm pháp luật bị bắt giữ, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt án tù chung thân về tội Mua bán trái phép chất ma túy, phải đi chấp hành án tại Trại giam Y từ đó cho đến nay. Vợ chồng chị C, anh N đã sống ly thân từ năm 2012, chị C xác định không còn tình cảm gì với anh Sồng A N nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh N.

Về con chung: Các con đều đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động làm ăn nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Phàng Thị C xin miễn án phí do sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

* Theo biên bản lấy lời khai ngày 13/11/2025, bị đơn anh Sồng A N trình bày như sau:

Anh Sồng A N và chị Phàng Thị C và anh Sồng A N tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2003, không đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã theo quy định của pháp luật, mà chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của người dân tộc Mông. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Sồng A N bị bắt về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, phải đi chấp hành án tại Trại giam Y nên vợ chồng sống ly thân từ đó, nay anh Sồng A N nhất trí ly hôn với chị C.

Anh Sồng A N và chị Phàng Thị C có 02 con chung là cháu Sồng A T, sinh ngày 02/02/2004 và cháu Sồng A S, sinh ngày 06/06/2005. Hiện các cháu đều đã trưởng thành, do đó không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngày 13/11/2025, anh Sồng A N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

* Theo Biên bản xác minh với Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Sơn La ngày 12/11/2025 như sau: Qua tra soát tại Sổ hộ tịch năm 2003 thì chị Phàng Thị C và anh Sồng A N không đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Sơn La (nay là xã C, tỉnh Sơn La). Theo nắm bắt thông tin do chính quyền bản N, xã C cung cấp thì chị Phàng Thị C và anh Sồng A N về sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2003, chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của người Mông; quá trình chung sống chị Phàng Thị C và anh Sồng A N có 02 con chung, cháu thứ nhất tên là Sồng A T, sinh ngày 02/02/2004, cháu thứ hai tên là Sồng A S, sinh ngày 06/06/2005. Hiện tại các cháu đều đã trưởng thành, không bị mất năng lực hành vi dân sự và đều có cuộc sống riêng.

* Theo Biên bản xác minh với Trưởng bản Nặm Dên, xã C, tỉnh Sơn La ngày 12/11/2025 như sau: Chị Phàng Thị C và anh Sồng A N sống chung như vợ chồng từ năm 2003, không đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã theo quy định của pháp luật mà chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của người dân tộc Mông. Từ năm 2012 đến nay, anh Sồng A N phải đi chấp hành án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, không có mặt ở địa phương. Quá trình sống chung, chị Phàng Thị C và anh Sồng A N có 02 con chung là cháu Sồng A T, sinh ngày 02/02/2004 và cháu Sồng A S, sinh ngày 06/06/2005. Hiện tại hai cháu đều đã trưởng thành, không bị mất năng lực hành vi dân sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa, Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật.
  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
  • Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1, 7 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Đề nghị:

  • Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phàng Thị C và anh Sồng A N.
  • Về con chung; Về tài sản chung, vay nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  • Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Phàng Thị C. Trả lại cho chị Phàng Thị C 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn chị Phàng Thị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Sồng A N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Bản N, xã C, tỉnh Sơn La. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Sơn La theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, qua lời khai của nguyên đơn và kết quả xác minh với chính quyền địa phương, xác định chị Phàng Thị C và anh Sồng A N sống chung với nhau không đăng ký kết hôn là vi phạm quy định của Luật hôn nhân và gia đình, anh chị không có tranh chấp về con chung, tài sản chung, vay nợ chung, vì vậy Tòa án chỉ tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; không tiến hành hòa giải. Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025, Tòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp “Không công nhận quan hệ vợ chồng”.

[1.3] Bị đơn anh Sồng A N có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Sồng A N.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phàng Thị C và anh Sồng A Nhà chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003. Nay chị Phàng Thị C yêu cầu ly hôn anh Sồng A N; anh Sồng A N nhất trí ly hôn với chị Phàng Thị C.

Xét thấy: Chị Phàng Thị C và anh Sồng A N có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn, mà chỉ tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của dân tộc Mông, chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003. Việc kết hôn không được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, do đó không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, cần tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Phàng Thị C và anh Sồng A N là vợ chồng.

[3] Về con chung: Chị Phàng Thị C và anh Sồng A N có 02 con chung là cháu Sồng A T, sinh ngày 02/02/2004 và cháu Sồng A S, sinh ngày 06/06/2005, đều đã trưởng thành và có khả năng lao động. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về vấn đề con chung.

[4] Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Phàng Thị C và anh Sồng A N đều khai không có tài sản chung, vay nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên xét thấy chị Phàng Thị C là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa có yêu cầu xin miễn án phí dân sự sơ thẩm nên cần miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Phàng Thị C theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Trả lại cho chị Phàng Thị C số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự được quyền kháng cáo bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Phàng Thị C và anh Sồng A N là vợ chồng.
  2. Về con chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không có, Tòa án không giải quyết.
  4. Về vay nợ chung: Không có, Tòa án không giải quyết.
  5. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Phàng Thị C.
  6. Chị Phàng Thị C được trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: 0000546 ngày 23/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Sơn La.

  7. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn (có mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn (vắng mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 6 – Sơn La;
  • - Phòng THADS khu vực 6 – Sơn La;
  • - UBND xã Chiềng Sơn, tỉnh Sơn La;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Đỗ Thị Thu Trang

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 01/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Phàng Thị C và anh Sồng A N là vợ chồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger