|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – GIA LAI TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thành Nhơn;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bạch Quảng và Ông Lương Văn Kiên.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thắng Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026 tại Tòa án nhân dân Khu vực 7, Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn B, xã B, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Lê Phước T1, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn B, xã B, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/8/2025 và các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà T và ông T1 đăng ký kết hôn năm 2012 tại UBND xã T, tỉnh Gia Lai và có một con chung là Lê Phước P. Trong thời gian chung sống, vợ chồng bất đồng trong sinh hoạt, không thể hòa giải được. Vì vậy bà T khởi kiện, yêu cầu Tòa án Tòa án giải quyết cho chị ly hôn, phân chia nghĩa vụ nuôi con; bà T đề nghị trực tiếp nuôi, không yêu cầu phải cấp dưỡng;
Về tài sản và các nghĩa vụ chung, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn, ông Lê Phước T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng không có ý kiến đề nghị gì và không đến tham gia trong quá trình Tòa án tiến hành tố tụng giải quyết vụ án.
Ý kiến của các con chung chưa thành niên của ông T1 và bà T là Lê Phước P, sinh ngày 04/6/2013 không mong muốn cha me ly hôn, nhưng nếu cha mẹ ly hôn thì xin được ở với mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Ông Lê Phước T1 và bà Nguyễn Thị T có quan hệ hôn nhân hợp pháp, được đăng ký hôn vào ngày 17/12/2012 tại UBND xã T, thành phố P (Nay là xã B), tỉnh Gia lai phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2010; đã có với nhau một con chung là Lê Phước P, sinh ngày 04/6/2013, hiện nay chưa thành niên, đang học phổ thông.
Ông Lê Phước T1 đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng và triêu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng lần thứ hai ông T1 vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự
[2]. Về yêu cầu ly hôn:
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T1 và bà T đã đến mức trầm trọng là có thật, Tòa án đã tổ chức hòa giải, phân tích về hậu quả của việc ly hôn để vợ chồng đoàn tụ, chăm sóc gia đình và nuôi dạy con cái, nhưng bà T vẫn cương quyết xin ly hôn, ông T1 bỏ mặc, không quan tâm gì đến việc yêu cầu ly hôn của bà T, không đến tham gia các phiên hòa giải, không đến tham gia phiên tòa và không có ý kiến phản hồi. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 2, Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
[4] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà T đề nghị được nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên và điều kiện thực tế hiện nay của con chưa thành niên, nên áp dụng Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung chưa thành niên là Lê Phước P, sinh ngày 04/6/2013 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động tự lập.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nghĩa vụ chung: bà thản không yêu cầu nên không xem xét.
[4] Về án phí: bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều: 51, 56, 69, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016;
Xử:
- Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Lê Phước T1.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung là: Lê Phước P, sinh ngày 04/6/2013 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con;
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng hoặc hạn chế quyền thăm nom con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên.
- Về án phí: bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0002600 ngày 03-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; bà Nguyễn Thị T đã nộp xong tiền án phí.
- Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Nhơn |
Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 15/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 01/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Lê Phước T ly hôn
