Xác định dân tộc cho con khi làm giấy khai sinh

Ngày đăng: 08/08/2022 lúc 08:30:48

Khi người dân thực hiện việc làm giấy khai sinh cho con, việc xác định dân tộc cho con sẽ căn cứ theo quy định pháp luật như sau

Căn cứ khoản 2 Điều 14 Luật Hộ tịch 2014 về việc xác định dân tộc cho con khi khai sinh:

“2. Việc xác định quốc tịch, dân tộc, họ của người được khai sinh được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch Việt Nam và pháp luật dân sự.”

Bên cạnh đó, Điều 6 Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch hướng dẫn về xác định dân tộc cho trẻ như sau:

“1. Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng.
2. Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.”

Theo đó, tuỳ từng trường hợp khác nhau, việc xác định trong giấy khai sinh sẽ thực hiện khác nhau theo khoản 2 Điều 29 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

- Trường hợp 1: Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.

- Trường hợp 2: Trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.

- Trường hợp 3: Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em.

BBT. Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam.