Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 được ban hành nhằm quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Văn bản này xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của ngành Kiểm sát nhằm bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trên phạm vi cả nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với hệ thống Viện kiểm sát nhân dân các cấp, bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện và tương đương) và các Viện kiểm sát quân sự. Đối tượng chịu sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật bao gồm các Bộ, cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, nhân viên Nhà nước và mọi công dân.
Chức năng và nhiệm vụ chung của Viện kiểm sát nhân dân
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang, nhân viên nhà nước và công dân; thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất.
- Bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự tôn trọng tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Công an, Thanh tra, Tư pháp, Tòa án, các cơ quan khác của Nhà nước và tổ chức xã hội trong việc đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật; tuyên truyền, giáo dục pháp luật; xây dựng pháp luật; thống kê, nghiên cứu tội phạm và đào tạo cán bộ pháp lý.
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát
- Chế độ tập trung thống nhất: Các Viện kiểm sát nhân dân tổ chức và hoạt động theo chế độ tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành dưới sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hoàn toàn độc lập và không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa phương.
- Hệ thống lãnh đạo: Viện trưởng cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng cấp trên; Viện trưởng địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng tối cao. Viện trưởng, Phó Viện trưởng và kiểm sát viên địa phương do Viện trưởng tối cao bổ nhiệm, bãi miễn.
- Trách nhiệm báo cáo: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội (hoặc trước Hội đồng Nhà nước trong thời gian Quốc hội không họp). Các Phó Viện trưởng và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Hội đồng Nhà nước cử và bãi miễn theo đề nghị của Viện trưởng tối cao.
Công tác kiểm sát chung việc tuân theo pháp luật
- Mục đích: Kiểm sát các văn bản pháp quy, biện pháp và hành vi của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, nghị quyết của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước và các văn bản của Hội đồng bộ trưởng.
- Quyền hạn của Viện kiểm sát: Yêu cầu cung cấp văn bản, tài liệu liên quan; yêu cầu thông báo tình hình vi phạm và kết quả xử lý; yêu cầu cơ quan Thanh tra cùng cấp tiến hành thanh tra; yêu cầu cá nhân liên quan trả lời về vi phạm; trực tiếp kiểm sát tại chỗ; kiến nghị hoặc kháng nghị yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ văn bản, biện pháp trái pháp luật; khởi tố hình sự hoặc dân sự khi cần thiết.
- Thời hạn thực hiện yêu cầu: Các cơ quan, tổ chức phải thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu trong vòng 30 ngày. Đối với kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát, cơ quan nhận được phải nghiên cứu và trả lời trong vòng 15 ngày (30 ngày đối với trường hợp cơ quan cấp trên nhận kiến nghị về hành vi của cơ quan cấp dưới).
Công tác kiểm sát điều tra
- Mục đích: Bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều được điều tra, xử lý đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; bảo đảm không ai bị bắt, tạm giam hoặc hạn chế quyền công dân trái pháp luật.
- Quyền hạn của Viện kiểm sát: Kiểm sát việc khởi tố của cơ quan điều tra hoặc trực tiếp khởi tố, trực tiếp điều tra trong trường hợp luật định; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các lệnh bắt, tạm giam, khám xét của cơ quan điều tra; ra quyết định bắt, tạm giam, truy nã bị can; đề ra yêu cầu điều tra, trả hồ sơ điều tra bổ sung; trực tiếp hỏi cung bị can khi cần thiết; quyết định truy tố (lập cáo trạng), miễn tố, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra; yêu cầu thay đổi nhân viên điều tra vi phạm pháp luật.
- Trách nhiệm của cơ quan điều tra: Phải thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát. Trường hợp không nhất trí với quyết định phê chuẩn, truy tố, miễn tố hoặc thay đổi nhân viên điều tra, cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành nhưng có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết.
Công tác kiểm sát xét xử
- Mục đích: Bảo đảm việc xét xử của Tòa án nhân dân các cấp đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời.
- Quyền hạn của Viện kiểm sát: Tham dự việc trù bị phiên tòa; tham gia tố tụng tại phiên tòa (kiểm sát viên đọc cáo trạng và luận tội tại phiên tòa hình sự); yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện vi phạm hoặc có tình tiết mới; khởi tố hoặc yêu cầu khởi tố các vụ án dân sự quan trọng.
- Quyền tham dự họp của Viện trưởng: Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao có quyền tham dự các cuộc họp của Hội đồng thẩm phán và Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bàn về áp dụng thống nhất pháp luật. Nếu không nhất trí với nghị quyết của các hội đồng này, Viện trưởng báo cáo Hội đồng Nhà nước quyết định. Viện trưởng cấp tỉnh có quyền tương tự tại Ủy ban thẩm phán cùng cấp, nếu không nhất trí thì báo cáo Viện trưởng tối cao.
Công tác kiểm sát chấp hành án
- Mục đích: Bảo đảm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thi hành đúng pháp luật, đầy đủ và kịp thời.
- Quyền hạn của Viện kiểm sát: Yêu cầu cơ quan thi hành án tự kiểm tra, cung cấp hồ sơ tài liệu liên quan; kiểm sát tại chỗ việc chấp hành án và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án; kiến nghị, kháng nghị yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ văn bản, biện pháp vi phạm hoặc xử lý người có trách nhiệm; khởi tố dân sự hoặc hình sự khi cần thiết.
- Thời hạn trả lời: Cơ quan hữu quan phải thực hiện yêu cầu cung cấp tài liệu, tự kiểm tra trong vòng 30 ngày; trả lời kiến nghị, kháng nghị trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được.
Công tác kiểm sát giam, giữ và cải tạo
- Mục đích: Bảo đảm việc giam, giữ, cải tạo đúng pháp luật, đúng chế độ; tôn trọng tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm và các quyền lợi hợp pháp khác của người bị giam, giữ, cải tạo.
- Quyền hạn của Viện kiểm sát: Kiểm sát tại chỗ thường kỳ và bất thường các nơi giam, giữ, cải tạo; xem xét sổ sách, hồ sơ liên quan; tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của người bị giam giữ; trực tiếp lấy lời khai; quyết định trả tự do ngay cho người bị giam, giữ, cải tạo không có căn cứ pháp luật; kiến nghị, kháng nghị xử lý vi phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có dấu hiệu tội phạm.
- Trách nhiệm của cơ quan quản lý: Thực hiện yêu cầu kiểm tra và trả lời trong vòng 30 ngày; chuyển đơn khiếu nại, tố cáo của người bị giam giữ cho Viện kiểm sát trong vòng 24 giờ; trả lời quyết định, kiến nghị, kháng nghị trong vòng 15 ngày. Trường hợp không nhất trí, cơ quan quản lý vẫn phải chấp hành nhưng có quyền yêu cầu Viện kiểm sát cấp trên xét lại (Viện kiểm sát cấp trên phải giải quyết trong vòng 15 ngày).
Hệ thống tổ chức và bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân
- Hệ thống tổ chức: Gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tương đương); Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh); các Viện kiểm sát quân sự (do Hội đồng Nhà nước quy định cụ thể về tổ chức).
- Cơ cấu Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Gồm Viện trưởng, Phó Viện trưởng thứ nhất, các Phó Viện trưởng và các kiểm sát viên. Thiết lập Ủy ban kiểm sát để thảo luận các vấn đề lớn, định hướng công tác, dự án luật, pháp lệnh (Viện trưởng quyết định cuối cùng, nếu khác ý kiến đa số thì báo cáo Hội đồng Nhà nước). Bộ máy giúp việc gồm các Vụ, Viện, Văn phòng và trường đào tạo nghiệp vụ.
- Cơ cấu Viện kiểm sát cấp tỉnh: Gồm Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, kiểm sát viên. Có Ủy ban kiểm sát cấp tỉnh để thảo luận việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác (Viện trưởng quyết định cuối cùng, nếu khác ý kiến đa số thì báo cáo Viện trưởng tối cao). Bộ máy giúp việc gồm các Phòng và Văn phòng.
- Cơ cấu Viện kiểm sát cấp huyện: Gồm Viện trưởng, Phó Viện trưởng, kiểm sát viên và các bộ phận công tác chuyên môn do Viện trưởng phân công.
- Thẩm quyền của Viện trưởng tối cao: Thống nhất lãnh đạo toàn ngành; ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư, quy chế công tác bắt buộc; chỉ đạo công tác đào tạo; quyết định bộ máy, biên chế các cấp (trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn bộ máy tối cao); bổ nhiệm, bãi miễn các chức vụ trong ngành (trừ các chức vụ thuộc thẩm quyền của Hội đồng Nhà nước).
Ngạch kiểm sát viên và các chế độ công tác
- Phân hạng ngạch kiểm sát viên: Gồm kiểm sát viên cao cấp, kiểm sát viên trung cấp và kiểm sát viên sơ cấp.
- Tiêu chuẩn bổ nhiệm: Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất và năng lực chính trị, pháp lý theo tiêu chuẩn do Viện trưởng tối cao định và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn.
- Chế độ chính sách: Quy chế ngạch kiểm sát viên, chế độ giấy chứng minh, tiền lương, phụ cấp, trang phục, khen thưởng, kỷ luật và tổng biên chế của ngành do Viện trưởng tối cao xây dựng, trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn.
Hiệu lực thi hành
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981 có hiệu lực thi hành và thay thế cho Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 15-7-1960, Pháp lệnh ngày 16-4-1962 và Pháp lệnh ngày 15-1-1970 quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3-LCT/HĐNN7 | Hà Nội, ngày 04 tháng 7 năm 1981 |
LUẬT
TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Căn cứ vào Điều 83 của Hiến pháp về nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 127 và các Điều từ 138 đến 141 của Hiến pháp về nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân;
Luật này quy định về tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình.
Trong phạm vi chức năng của mình, các Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự tôn trọng tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.
Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố bằng những công tác dưới đây:
1/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các văn bản pháp quy và biện pháp của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hành vi của các nhân viên Nhà nước và công dân;
3/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân;
4/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật;
5/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo.
Trong phạm vi nhiệm vụ của mình, các Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm cùng các cơ quan Công an, Thanh tra, Tư pháp, Toà án, các cơ quan khác của Nhà nước và các tổ chức xã hội tích cực đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các việc làm vi phạm pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân phối hợp với các cơ quan và tổ chức nói trên trong việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật; xây dựng pháp luật; thống kê, nghiên cứu các tội phạm và việc làm vi phạm pháp luật; đào tạo cán bộ pháp lý.
1/ Các Viện kiểm sát nhân dân tổ chức và hoạt động theo chế độ tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào của Nhà nước ở địa phương.
2/ Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm và bãi miễn.
Các Phó Viện trưởng và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Hội đồng Nhà nước cử và bãi miễn, theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền trình Quốc hội và Hội đồng Nhà nước các dự án Luật, dự án pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi công tác kiểm sát.
Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các văn bản pháp quy và biện pháp của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hành vi của các nhân viên Nhà nước và công dân, nhằm bảo đảm cho các văn bản pháp quy, biện pháp và hành vi đó phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, các nghị quyết của Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, các nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư của Hội đồng bộ trưởng.
Khi thực hiện công tác kiểm sát chung, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:
1/ Yêu cầu các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp và cấp dưới, các đơn vị cơ sở trực thuộc cấp trên đóng tại địa phương:
a) Cung cấp cho Viện kiểm sát nhân dân các văn bản pháp quy và tài liệu khác cần thiết cho việc xác định việc làm vi phạm pháp luật;
b) Thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân biết các việc làm xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân đã xẩy ra trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình và kết quả việc xử lý những việc làm đó;
c) Kiểm tra việc làm vi phạm pháp luật của đơn vị cấp dưới và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân biết;
d) Cử chuyên viên để làm rõ các vấn đề cần thiết thuộc phạm vi trách nhiệm của mình;
2/ Yêu cầu cơ quan Thanh tra cùng cấp thanh tra việc làm vi phạm pháp luật và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân biết;
3/ Yêu cầu nhân viên Nhà nước, quân nhân và công dân trả lời về việc làm vi phạm pháp luật có liên quan đến họ;
4/ Kiểm sát tại chỗ việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức, đơn vị nói ở điểm 1 điều này trong việc áp dụng các biện pháp quản lý và xử lý hành chính, giải quyết khiếu nại và tố cáo của nhân dân, khi thấy có vi phạm pháp luật; triệu tập hoặc tham dự hội nghị bàn về những việc làm vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, đơn vị đó khi thấy cần thiết;
5/ Kiến nghị hoặc kháng nghị với các cơ quan, tổ chức và đơn vị nói ở điểm 1 điều này, yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ các văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật, loại trừ những nguyên nhân gây ra các việc làm vi phạm pháp luật, xử lý người chịu trách nhiệm về những việc làm đó. Trong trường hợp cần thiết thì khởi tố về hình sự hoặc dân sự và áp dụng các biện pháp thích đáng để bảo đảm việc bồi thường cho người bị thiệt hại do việc làm vi phạm pháp luật gây ra.
Đối với các yêu cầu nói trong các điểm 1 ,2 ,3 Điều 7, cơ quan, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc người hữu quan có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh trong thời hạn chậm nhất là ba mươi ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trong trường hợp đặc biệt cần có thời hạn dài hơn thì phải được sự đồng ý của Viện kiểm sát nhân dân.
Đối với kiến nghị, kháng nghị nói trong điểm 5 Điều 7, cơ quan, tổ chức xã hội, đơn vị hữu quan có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, kháng nghị. Nếu đồng ý thì nói rõ những việc đã làm, đang làm hoặc sẽ làm để thực hiện yêu cầu nêu trong kiến nghị, kháng nghị. Nếu không đồng ý thì nói rõ lý do.
Trong trường hợp một cơ quan cấp trên nhận được kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân đối với cơ quan cấp dưới của mình thì thời hạn trả lời là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, kháng nghị.
Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và các cơ quan điều tra khác, nhằm bảo đảm:
1/ Mọi hành vi phạm tội đều phải được điều tra để xử lý theo pháp luật, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội;
2/ Không để một người nào bị bắt, bị tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật;
3/ Việc khởi tố và điều tra phải theo đúng quy định của pháp luật. Trong việc điều tra phải thu thập cả chứng cứ kết tội và chứng cứ gỡ tội, phải làm rõ những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm của bị can và tìm ra những nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm;
4/ Việc truy cứu trách nhiệm phải có đủ căn cứ và phải bảo đảm tính hợp pháp.
Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:
1/ Kiểm sát việc khởi tố hình sự của cơ quan điều tra, khởi tố hình sự và chuyển vụ án đến cơ quan điều tra để yêu cầu tiến hành điều tra. Trong trường hợp do pháp luật quy định thì Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp điều tra;
2/ Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các lệnh bắt, tạm giam, gia hạn tạm giam, tha, tạm tha, khám xét và các biện pháp khác do luật định của cơ quan điều tra; ra các quyết định bắt, tạm giam, gia hạn tạm giam, tha, tạm tha, khám xét, thu giữ tang vật, và chuyển đến cơ quan điều tra để yêu cầu thi hành; yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can đang trốn tránh;
3/ Đề ra yêu cầu điều tra, trả lại hồ sơ vụ án khi thấy chứng cứ chưa đầy đủ và yêu cầu điều tra bổ sung để cơ quan điều tra tiến hành điều tra; yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp những tài liệu cần thiết về tội phạm và việc làm vi phạm pháp luật, thông báo tình hình phạm pháp đã xảy ra;
4/ Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, việc hỏi cung bị can hoặc các việc khác trong công tác điều tra của cơ quan điều tra, trực tiếp hỏi cung bị can, khi thấy cần thiết;
5/ Quyết định truy tố hoặc miễn tố, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra, di lý vụ án, huỷ bỏ các quyết định thiếu căn cứ hoặc trái pháp luật của cơ quan điều tra. Trong trường hợp quyết định truy tố thì Viện kiểm sát nhân dân làm cáo trạng;
6/ Yêu cầu cơ quan điều tra thay đổi nhân viên điều tra đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra; sửa chữa việc làm vi phạm pháp luật trong công tác điều tra. Trong trường hợp nhân viên điều tra phạm tội trong công tác điều tra thì truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các cơ quan điều tra và nhân viên điều tra hữu quan có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát nhân dân nói trong Điều 10. Trong trường hợp không nhất trí với các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát nhân dân nói trong các điểm 2, 5, 6 Điều 10 thì vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân trên một cấp xét và quyết định.
Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án, nhằm bảo đảm việc xét xử của các Toà án nhân dân đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời.
Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các viện kiểm sát nhân dân có quyền:
1/ Tham dự việc trù bị phiên toà của Toà án nhân dân cùng cấp;
2/ Tham gia tố tụng tại phiên toà của Toà án nhân dân cùng cấp; trong phiên toà hình sự, kiểm sát viên đọc cáo trạng và luận tội;
3/ Yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp chuyển hồ sơ những vụ án cần thiết cho công tác kiểm sát xét xử;
Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân các cấp theo thủ tục giám đốc thẩm khi thấy có vi phạm pháp luật hoặc theo thủ tục tái thẩm khi thấy có tình tiết mới.
1/ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cáo có quyền tham dự các cuộc họp của Hội đồng thẩm phán và Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao bàn về việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong công tác xét xử.
Trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không nhất trí với nghị quyết của Hội đồng thẩm phán hoặc Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì báo cáo lên Hội đồng Nhà nước xét và quyết định.
2/ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có quyền tham dự các cuộc họp của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cùng cấp bàn về việc áp dụng pháp luật trong công tác xét xử.
Trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương không nhất trí với nghị quyết của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cùng cấp thì báo cáo lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
CÔNG TÁC KIỂM SÁT CHẤP HÀNH ÁN
Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người hữu quan trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật, nhằm bảo đảm các bản án và quyết định đó được chấp hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời.
Khi thực hiện công tác kiểm sát chấp hành án, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:
1/ Yêu cầu cơ quan chấp hành án và đơn vị hữu quan:
a) Tự kiểm tra việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân biết;
b) Cung cấp những tài liệu, văn bản hoặc xuất trình các hồ sơ, sổ sách, giấy tờ có liên quan đến việc chấp hành án;
c) Chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật mà chưa được chấp hành.
2/ Kiểm sát tại chỗ việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vi và người hữu quan trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vi đó trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân đối với việc chấp hành án.
3/ Kiến nghị hoặc kháng nghị với các cơ quan, đơn vị hữu quan, yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ những văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc chấp hành án; xử lý hành chính người chịu trách nhiệm về việc làm vi phạm pháp luật đó.
Trong trường hợp cần thiết thì khởi tố dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các cơ quan, đơn vị hữu quan có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu nói ở điểm 1 Điều 16 trong thời hạn chậm nhất là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Đối với các kiến nghị, kháng nghị nói ở điểm 3 Điều 16, cơ quan, đơn vị hữu quan có trách nhiệm xem xét và trả lời trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, kháng nghị.
Trong trường hợp đặc biệt cần có thời hạn dài hơn thì phải được sự đồng ý của Viện kiểm sát nhân dân.
Nếu không nhất trí thì phải báo cho Viện kiểm sát nhân dân biết rõ lý do.
CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIAM, GIỮ VÀ CẢI TẠO
Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong các việc giam, giữ và cải tạo, nhằm bảo đảm:
1/ Các việc giam, giữ và cải tạo theo đúng thủ tục pháp luật và có căn cứ;
2/ Các chế độ giam, giữ và cải tạo được chấp hành nghiêm chỉnh;
3/ Tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm và các quyền khác của đương sự không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng.
Khi thực hiện công tác kiểm sát giam, giữ và cải tạo, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:
1/ Thường kỳ và bất thường kiểm sát tại chỗ các nơi giam, giữ và cải tạo;
2/ Xem xét các sổ sách, hồ sơ, tài liệu của cơ quan cùng cấp và cấp dưới về việc giam, giữ và cải tạo;
3/ Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của các đương sự; trực tiếp lấy lời khai báo của họ;
4/ Yêu cầu cơ quan cùng cấp quản lý các nơi giam, giữ, cải tạo kiểm tra những nơi đó và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân biết;
5/ Yêu cầu cơ quan cùng cấp, cấp dưới và người có trách nhiệm trả lời về văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo;
6/ Quyết định việc trả tự do cho người bị giam, giữ và cải tạo không có căn cứ và trái pháp luật;
7/ Kiến nghị hoặc kháng nghị với cơ quan cùng cấp và cấp dưới yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ các văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật và xử lý người chịu trách nhiệm về việc làm vi phạm pháp luật. Trong trường hợp nhân viên làm công tác giam, giữ và cải tạo phạm tội thì truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các cơ quan và nhân viên hữu quan có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu nói ở các điểm 4, 5 Điều 19 và trả lời trong thời hạn chậm nhất là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân trong thời hạn hai mươi bốn giờ đơn từ khiếu nại hoặc tố cáo của người bị giam, giữ, cải tạo.
Nếu không nhất trí với quyết định, kiến nghị, kháng nghị đó thì cơ quan và nhân viên hữu quan phải nói rõ lý do và có quyền yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân trên một cấp xét lại. Viện kiểm sát nhân dân phải xét và quyết định trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.
TỔ CHỨC VÀ CÁN BỘ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1/ Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm có:
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương;
- Các Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Các Viện kiểm sát quân sự.
2/ Tổ chức của Viện kiểm sát quân sự các cấp do Hội đồng Nhà nước quy định.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng lãnh đạo.
Các Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng làm nhiệm vụ.
Phó Viện trưởng thứ nhất thay thế Viện trưởng khi Viện trưởng vắng mặt.
Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác kiểm sát, các dự thảo báo cáo của Viện trưởng trình Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, các dự án luật, dự án pháp lệnh và các vấn đề quan trọng khác mà Viện trưởng thấy cần thiết.
Trong các cuộc họp của Uỷ ban kiểm sát, Viện trưởng kết luận và quyết định cuối cùng. Trong trường hợp Viện trưởng quyết định khác với ý kiến của đa số trong Uỷ ban kiểm sát thì Viện trưởng thực hiện quyết định của mình, đồng thời báo cáo lên Hội đồng Nhà nước.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương do Viện trưởng lãnh đạo.
Các Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng làm nhiệm vụ. Phó Viện trưởng thứ nhất thay thế Viện trưởng khi Viện trưởng vắng mặt.
2/ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có Uỷ ban kiểm sát gồm Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và một số kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương.
Uỷ ban kiểm sát thảo luận việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác, các chỉ thị, thông tư và các quyết định quan trọng khác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các dự thảo báo cáo quan trọng của Viện trưởng lên viện kiểm sát nhân dân tối cao và những vấn đề khác mà Viện trưởng thấy cần thiết.
Trong các cuộc họp của Uỷ ban kiểm sát, Viện trưởng kết luận và quyết định cuối cùng. Khi Viện trưởng quyết định khác với ý kiến của đa số trong Uỷ ban kiểm sát thì Viện trưởng thực hiện quyết định của mình, đồng thời báo cáo lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
3/ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có các Phòng và Văn phòng giúp việc.
1/ Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Viện trưởng, Phó Viện trưởng, các kiểm sát viên.
Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh do Viện trưởng lãnh đạo.
Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng làm nhiệm vụ và thay thế Viện trưởng khi Viện trưởng vắng mặt .
2/ Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có các bộ phận công tác do Viện trưởng, Phó Viện trưởng và một số kiểm sát viên phụ trách, theo sự phân công của Viện trưởng.
1/ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất lãnh đạo hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự.
2/ Căn cứ vào Hiến pháp, pháp luật, nghị quyết của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có nhiệm vụ:
a) Đề ra phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác kiểm sát và xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân về mọi mặt;
b) Ra các quyết định, chỉ thị, thông tư, điều lệ, quy chế, chế độ công tác có tính chất bắt buộc đối với tất cả các Viện kiểm sát nhân dân;
c) Chỉ đạo và kiểm tra hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các cấp;
d) Chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên của Viện kiểm sát nhân dân các cấp;
đ) Quyết định bổ nhiệm, bãi miễn các chức vụ trong Viện kiểm sát nhân dân các cấp và các Viện kiểm sát quân sự, trừ các chức vụ Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
e) Quyết định bộ máy làm việc và biên chế của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
g) Chỉ đạo các việc xây dựng dự án luật, dự án pháp lệnh liên quan đến ngành Kiểm sát; tổng kết công tác kiểm sát; phối hợp với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội trong công tác phòng ngừa và chống các tội phạm và việc làm vi phạm pháp luật; tuyên truyền, giáo dục pháp luật, xây dựng pháp luật; thống kê, nghiên cứu các tội phạm và việc làm vi phạm pháp luật; đào tạo cán bộ pháp lý.
1/ Ngạch kiểm sát viên gồm có kiểm sát viên cao cấp, kiểm sát viên trung cấp và kiểm sát viên sơ cấp.
2/ Các kiểm sát viên làm nhiệm vụ của mình theo sự phân công và uỷ nhiệm của Viện trưởng, dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân và sự phối hợp với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân.
3/ Có thể được bổ nhiệm làm kiểm sát viên những công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất và năng lực chính trị, pháp lý theo tiêu chuẩn do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao định và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn.
Các chế độ kiểm tra, khen thưởng, kỷ luật của Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao định và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn.
Tổng số biên chế của Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao định và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định biên chế của Viện kiểm sát nhân dân các cấp.
Luật này thay thế Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 15-7-1960, Pháp lệnh ngày 16-4-1962 và Pháp lệnh ngày 15-1-1970 quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ nhất, thông qua ngày 4 tháng 7 năm 1981.
| Nguyễn Hữu Thọ (Đã ký) |
- 1Chỉ thị 06-VKSTC năm 1989 về giải quyết các vụ việc mà đài báo đưa tin thuộc trách nhiệm của ngành kiểm sát nhân dân do Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 2Thông tư 09-TTg năm 1963 về quan hệ công tác giữa Viện Kiểm sát nhân dân các cấp với các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan Nhà nước địa phương do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Quy định 17-V9/TC năm 1993 về chế độ trang phục, giấy chứng minh kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.
- 4Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960
- 5Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 1962
- 6Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 1970
- 7Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992
- 8Lệnh công bố Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1992
- 1Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960
- 2Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 1962
- 3Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 1970
- 4Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi 1988
- 5Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992
- 6Lệnh công bố Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1992
- 1Chỉ thị 06-VKSTC năm 1989 về giải quyết các vụ việc mà đài báo đưa tin thuộc trách nhiệm của ngành kiểm sát nhân dân do Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 2Thông tư 09-TTg năm 1963 về quan hệ công tác giữa Viện Kiểm sát nhân dân các cấp với các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan Nhà nước địa phương do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Quy định 17-V9/TC năm 1993 về chế độ trang phục, giấy chứng minh kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.
- 4Hiến pháp năm 1980
- 5Nghị quyết số 451-NQ/HĐNN7 về việc phê chuẩn Quy chế Ngạch Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 6Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 1985 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981
- Số hiệu: 3-LCT/HĐNN7
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 04/07/1981
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Hữu Thọ
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 13
- Ngày hiệu lực: 13/07/1981
- Ngày hết hiệu lực: 10/10/1992
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
