Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 1962 được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16 tháng 4 năm 1962, quy định chi tiết về cơ cấu tổ chức, bộ máy làm việc, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng thời thiết lập nền tảng pháp lý cho hoạt động kiểm sát thống nhất trên toàn quốc.
Phạm vi áp dụng của Pháp lệnh bao trùm toàn bộ hệ thống ngành kiểm sát bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự. Đối tượng áp dụng trực tiếp là Viện trưởng, các Phó viện trưởng, kiểm sát viên, kiểm sát viên dự khuyết và các cán bộ, công chức làm việc trong ngành kiểm sát nhân dân thời kỳ này.
- Cơ cấu nhân sự và tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm: Viện trưởng, các Phó viện trưởng, các kiểm sát viên và kiểm sát viên dự khuyết.
- Thành lập Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao với cơ cấu thành viên gồm có Viện trưởng, các Phó viện trưởng và một số kiểm sát viên.
- Các Phó viện trưởng có trách nhiệm giúp việc cho Viện trưởng thực hiện các nhiệm vụ được giao.
- Các kiểm sát viên và kiểm sát viên dự khuyết thực hiện công tác kiểm sát chuyên môn theo sự phân công và dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Viện trưởng.
- Lãnh đạo thống nhất toàn bộ hệ thống kiểm sát bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự.
- Báo cáo toàn diện về công tác của ngành kiểm sát trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Trình Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội các dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc phạm vi chuyên môn của ngành; đồng thời trình Ủy ban thường vụ Quốc hội các đề nghị giải thích pháp luật.
- Trực tiếp thực hiện và chỉ đạo các công tác kiểm sát chung, công tác điều tra và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, kiểm sát giam giữ; chỉ đạo các Viện kiểm sát cấp dưới áp dụng kịp thời các biện pháp luật định để đấu tranh chống vi phạm pháp luật.
- Chỉ đạo công tác xây dựng tổ chức bộ máy, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong toàn ngành kiểm sát.
- Chỉ đạo các Viện kiểm sát nhân dân thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật sâu rộng trong quần chúng nhân dân.
- Số lượng thành viên của Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao được quy định từ bảy đến chín Ủy viên.
- Ủy ban kiểm sát có thẩm quyền thảo luận và giải quyết các vấn đề quan trọng bao gồm: đường lối, phương châm công tác kiểm sát; chương trình công tác của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các dự án kháng nghị quan trọng đối với văn bản quy phạm hoặc quyết định không đúng pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan Nhà nước địa phương; các vấn đề về điều tra thẩm cứu, truy tố, kháng nghị bản án/quyết định của Tòa án nhân dân trong các vụ án quan trọng; các dự án luật, pháp lệnh và đề nghị giải thích pháp luật trước khi trình Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Ủy ban kiểm sát hoạt động theo nguyên tắc tập thể và dân chủ dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng. Viện trưởng có quyền quyết định cuối cùng; trường hợp Viện trưởng quyết định khác với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì phải báo cáo lên Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, giải quyết.
- Bộ máy làm việc chính thức gồm các đơn vị: Vụ kiểm sát chung; Vụ điều tra thẩm cứu; Vụ kiểm sát điều tra; Vụ kiểm sát xét xử hình sự; Vụ kiểm sát xét xử dân sự; Vụ tổng hợp và kiểm tra; Vụ tổ chức và cán bộ; và Văn phòng.
- Thành lập Phòng kiểm sát giam giữ trực thuộc Viện trưởng. Ngoài ra, Viện trưởng có quyền thành lập một số Phòng chuyên môn khác trực thuộc khi xét thấy cần thiết.
- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ của các vụ, văn phòng và các phòng trực thuộc.
- Biên chế chung của Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng quyết định và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra và bãi miễn.
- Các Phó viện trưởng, kiểm sát viên, kiểm sát viên dự khuyết và các ủy viên Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi miễn.
- Các chức danh lãnh đạo hành chính gồm Vụ trưởng, Vụ phó, Chánh văn phòng, Phó văn phòng, Trưởng phòng và Phó phòng do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm và bãi miễn.
- Pháp lệnh chính thức thiết lập ngạch kiểm sát viên nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả và tính chuyên nghiệp của công tác kiểm sát trong hệ thống cơ quan tư pháp.
Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 1962 đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16 tháng 4 năm 1962 và được ban hành dưới sự phê chuẩn của Chủ tịch nước Hồ Chí Minh, có hiệu lực thi hành kể từ ngày thông qua.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 12/LCT | Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 1962 |
PHÁP LỆNH
SỐ 12/LCT CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI VỀ VIỆC QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ TỔ CHỨC CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ vào điều 106 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 15 tháng 7 năm 1960;
Để bảo đảm thực hiện tốt công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật, góp phần làm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao như sau:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Viện trưởng các Phó viện trưởng, các kiểm sát viên và kiểm sát viên dự khuyết.
Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thành lập Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có Viện trưởng, các Phó viện trưởng và một số kiểm sát viên.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao lãnh đạo thống nhất Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
a) Báo cáo công tác của ngành kiểm sát trước Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
b) Trình Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội những dự án luật, dự án pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi công tác chuyên môn của ngành kiểm sát; trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội những đề nghị giải thích pháp luật;
c) Thực hiện các công tác kiểm sát chung, điều tra và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kiểm sát giam giữ; chỉ đạo các Viện kiểm sát nhân dân các cấp kịp thời áp dụng những biện pháp do luật định để chống những việc vi phạm pháp luật;
d) Chỉ đạo công tác xây dựng tổ chức, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ của ngành kiểm sát;
đ) Chỉ đạo các Viện kiểm sát nhân dân tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong nhân dân.
Các Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giúp Viện trưởng làm nhiệm vụ.
Các kiểm sát viên và kiểm sát viên dự khuyết Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện công tác kiểm sát theo sự phân công và dưới sự chỉ đạo của Viện trưởng.
Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao có từ bẩy đến chín Uỷ viên.
Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận và giải quyết những vấn đề quan trọng sau đây trong công tác kiểm sát:
a) Những vấn đề thuộc về đường lối, phương châm công tác kiểm sát; chương trình công tác của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Những dự án kháng nghị quan trọng đối với những nghị quyết, quyết đinh, thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và của các cơ quan Nhà nước địa phương mà xét thấy không đúng pháp luật;
c) Những vấn đề thuộc về điều tra thẩm cứu, truy tố và kháng nghị bản án và quyết định của Toà án nhân dân trong những vụ án quan trọng;
d) Những dự án luật, dự án pháp lệnh và những đề nghị giải thích pháp luật mà Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ trình Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm việc theo nguyên tắc tập thể và dân chủ dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng. Trong Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng có quyền quyết định cuối cùng. Khi Viện trưởng quyết định khác với ý kiến của đa số trong Uỷ ban kiểm sát thì Viện trưởng sẽ báo cáo lên Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét.
Bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có:
- Vụ kiểm sát chung;
- Vụ điều tra thẩm cứu;
- Vụ kiểm sát điều tra;
- Vụ kiểm sát xét xử hình sự;
- Vụ kiểm sát xét xử dân sự;
- Vụ tổng hợp và kiểm tra;
- Vụ tổ chức và cán bộ;
- Văn phòng.
Ngoài các Vụ trên đây, có Phòng kiểm sát giam giữ trực thuộc Viện trưởng.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể thành lập một số Phòng khác trực thuộc Viện trưởng khi xét thấy cần thiết.
Tổ chức và nhiệm vụ cụ thể của các vụ, văn phòng và các phòng trên đây do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định.
Biên chế chung của Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra và bãi miễn.
Các Phó viện trưởng, các kiểm sát viên và kiểm sát viên dự khuyết, các uỷ viên Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Uỷ ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi miễn.
Các vụ trưởng và vụ phó, Chánh văn phòng và Phó văn phòng, các trưởng phòng và phó phòng do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm và bãi miễn.
Để tăng cường hiệu lực của công tác kiểm sát, nay thành lập ngạch kiểm sát viên.
Pháp lệnh này đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16 tháng 4 năm 1962.
| Hồ Chí Minh (Đã ký) |
Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 1962
- Số hiệu: 12/LCT
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 16/04/1962
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 15
- Ngày hiệu lực: 18/04/1962
- Ngày hết hiệu lực: 19/07/1981
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
