Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1990 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự trước đó, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội tinh nhuệ, từng bước hiện đại và phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới. Văn bản tập trung điều chỉnh các nội dung cốt lõi về thời hạn phục vụ tại ngũ, chế độ tạm hoãn gọi nhập ngũ, quyền lợi của quân nhân và thân nhân, cũng như thắt chặt kỷ luật thông qua các quy định xử lý vi phạm.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Luật này điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân Việt Nam. Đối tượng áp dụng bao gồm công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ; hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ; hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc ngạch dự bị; gia đình của hạ sĩ quan, binh sĩ; các cơ quan nhà nước, Ủy ban nhân dân các cấp, các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ
Luật sửa đổi đã phân định rõ ràng thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình đối với từng đối tượng cụ thể nhằm tối ưu hóa công tác huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu:
- Thời hạn phục vụ tại ngũ tiêu chuẩn đối với hạ sĩ quan và binh sĩ trong thời bình là hai năm.
- Thời hạn phục vụ tại ngũ là ba năm đối với các đối tượng đặc thù bao gồm: hạ sĩ quan chỉ huy; hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do Quân đội đào tạo; hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ trên các tàu hải quân.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác tuyển quân
Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ được quy định chặt chẽ hơn nhằm bảo đảm tính nghiêm minh và công bằng xã hội:
- Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ tại địa phương mình.
- Quá trình tuyển quân phải bảo đảm các nguyên tắc: công khai, dân chủ, công bằng, đúng thời gian, đủ số lượng và đúng tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật.
- Các đơn vị nhận quân có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân các cấp để thực hiện tốt nhiệm vụ giao nhận quân.
Chế độ tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình
Luật quy định cụ thể các trường hợp được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình nhằm bảo đảm chính sách hậu phương quân đội và tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực cho đất nước:
- Người chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận chính thức của Hội đồng khám sức khỏe.
- Con của liệt sĩ; anh hoặc em trai còn lại duy nhất của liệt sĩ.
- Một con trai của thương binh hạng một, hạng hai và bệnh binh hạng một.
- Người là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động.
- Người có anh, chị hoặc em ruột trong cùng một hộ gia đình là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ.
- Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở một số vùng cao, vùng sâu, vùng xa xôi, hẻo lánh theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.
- Người đang thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước hoặc người có chức vụ tương đương xác nhận.
- Học sinh đang học tại các trường phổ thông; học sinh, sinh viên đang theo học hệ tập trung dài hạn tại các trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng và trường đại học do Nhà nước quản lý.
- Lưu ý về kiểm tra và độ tuổi: Hàng năm, những người thuộc diện tạm hoãn (trừ đối tượng con/em liệt sĩ, con thương binh/bệnh binh nặng) phải được kiểm tra lại. Nếu lý do tạm hoãn không còn thì sẽ được gọi nhập ngũ. Nếu hết 27 tuổi mà vẫn không được gọi nhập ngũ thì công dân sẽ được chuyển sang ngạch dự bị.
Quy trình và thủ tục xuất ngũ đối với hạ sĩ quan, binh sĩ
Công tác giải quyết xuất ngũ được chuẩn hóa nhằm bảo đảm quyền lợi cho quân nhân khi hoàn thành nghĩa vụ:
- Hạ sĩ quan và binh sĩ đã phục vụ đủ thời hạn quy định sẽ được xuất ngũ theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Người chỉ huy đơn vị từ cấp trung đoàn và tương đương trở lên có trách nhiệm thực hiện quyết định này.
- Thời gian xuất ngũ phải được thông báo trước một tháng cho quân nhân, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi quân nhân cư trú hoặc làm việc trước khi nhập ngũ.
- Đơn vị cấp trung đoàn trở lên có trách nhiệm tổ chức tiễn và đưa quân nhân xuất ngũ về bàn giao trực tiếp cho Ủy ban nhân dân địa phương đã giao quân. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tiếp nhận quân nhân xuất ngũ trở về địa phương.
Quy định về ngạch dự bị của hạ sĩ quan và binh sĩ
Luật điều chỉnh độ tuổi và phân nhóm lực lượng dự bị để quản lý nguồn nhân lực quốc phòng hiệu quả:
- Hạn tuổi phục vụ ở ngạch dự bị đối với nam giới là đến hết 45 tuổi; đối với nữ giới là đến hết 40 tuổi.
- Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị nam giới được chia thành hai nhóm dựa trên lứa tuổi: Nhóm A gồm những người đến hết 35 tuổi; Nhóm B gồm những người từ 36 tuổi đến hết 45 tuổi.
- Luật bãi bỏ hoàn toàn khoản 3 Điều 40 về việc huấn luyện quân nhân dự bị ở nhóm C.
Chế độ, chính sách ưu đãi đối với quân nhân tại ngũ và gia đình
Nhằm động viên tinh thần và bảo đảm đời sống cho quân nhân, Luật bổ sung nhiều chính sách ưu đãi thiết thực:
- Đối với hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ: Được bảo đảm đầy đủ, kịp thời về lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc men, chỗ ở, phụ cấp hàng tháng và đời sống văn hóa tinh thần. Từ năm thứ hai trở đi được nghỉ phép theo quy định. Từ tháng thứ 25 tại ngũ trở đi được hưởng thêm 100% phụ cấp hàng tháng. Được tính nhân khẩu tại gia đình khi phân chia, điều chỉnh diện tích nhà ở, đất ở, đất canh tác. Thời gian tại ngũ được tính vào thời gian công tác liên tục. Được ưu tiên mua vé tàu xe và hưởng các ưu đãi về bưu phí.
- Đối với gia đình quân nhân tại ngũ: Bố hoặc vợ được tạm miễn tham gia lao động công ích nếu gia đình thực sự khó khăn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã. Bố, mẹ, vợ, con được hưởng chế độ trợ cấp khó khăn đột xuất và được miễn viện phí khi khám, chữa bệnh tại các bệnh viện nhà nước. Con gửi trẻ hoặc đi học tại các trường mẫu giáo, phổ thông công lập được miễn học phí và tiền đóng góp xây dựng trường.
Chế độ, chính sách khi xuất ngũ
Khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, hạ sĩ quan và binh sĩ được hưởng các quyền lợi sau:
- Được cấp tiền tàu xe, phụ cấp đi đường và trợ cấp xuất ngũ theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.
- Được tạm miễn làm nghĩa vụ lao động công ích kể từ ngày có quyết định xuất ngũ. Cứ mỗi năm phục vụ tại ngũ thì được miễn tương ứng một năm nghĩa vụ lao động công ích.
- Thời gian quân nhân dự bị tập trung huấn luyện và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu được khấu trừ trực tiếp vào thời gian thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hàng năm tại địa phương.
Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về nghĩa vụ quân sự
Luật thay thế các quy định cũ bằng một điều khoản thống nhất (Điều 69 mới) nhằm tăng cường tính răn đe, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm:
- Đối với mọi cá nhân (kể cả người có chức vụ, quyền hạn) có hành vi vi phạm quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, tuyển chọn, gọi nhập ngũ, gọi huấn luyện dự bị, hoặc lợi dụng chức vụ để cản trở, làm trái quy định: Tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Đối với quân nhân có hành vi vi phạm quy định về tuyển chọn, gọi nhập ngũ, xuất ngũ, hoặc xâm phạm chế độ, quyền lợi của quân nhân: Sẽ bị xử lý nghiêm theo Điều lệnh kỷ luật của quân đội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm.
Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1990 do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công ký sắc lệnh công bố, có hiệu lực thi hành kể từ ngày được Quốc hội thông qua (ngày 21 tháng 12 năm 1990), tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho công tác quốc phòng và tuyển quân trong thời kỳ mới.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 46-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 1990 |
Căn cứ vào Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự như sau:
1/ Điều 14 về thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 14.
Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ là hai năm.
Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do Quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tầu hải quân là ba năm."
2/ Đoạn 4 Điều 21 về trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc gọi công dân nhập ngũ, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ trong địa phương mình, bảo đảm công khai, dân chủ và công bằng; đúng thời gian, đủ số lượng, đúng tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. Các đơn vị nhận quân có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ này".
3/ Điều 29 về những người được hoãn gọi nhập ngũ, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 29.
Trong thời bình, những người đây sau được hoãn gọi nhập ngũ:
1- Người chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khoẻ;
2- Con của liệt sĩ;
3- Anh hoặc em trai còn lại duy nhất của liệt sĩ;
4- Một con trai của thương binh hạng một, hạng hai và bệnh binh hàng một;
5- Người là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;
6- Người có anh, chị hoặc em ruột trong cùng một hộ gia đình là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;
7- Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở một số vùng cao xa xôi, hẻo lánh do Hội đồng bộ trưởng quy định;
8- Người đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà nước được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước hoặc người có chức tương đương chứng nhận;
9- Người đang học ở các trường phổ thông; đang học ở các trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học thuộc hệ tập trung dài hạn do Nhà nước quản lý.
Hàng năm, những người nói ở các điểm 1, 5, 6, 7, 8 và 9 của Điều này phải được kiểm tra, nếu không còn lý do hoãn thì được gọi nhập ngũ; hết 27 tuổi mà vẫn không được gọi nhập ngũ thì chuyển sang ngạch dự bị".
4/ Điều 32 về việc xuất ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 32.
Hạ sĩ quan và binh sĩ đã phục vụ tại ngũ đủ thời hạn quy định ở
Thời gian xuất ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ phải được thông báo trước một tháng cho quân nhân, Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị cơ sở, nơi quân nhân cư trú hoặc làm việc trước khi nhập ngũ. Người chỉ huy của đơn vị cấp trung đoàn và tương đương trở lên có hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ phải tổ chức tiễn và đưa họ về bàn giao cho Uỷ ban nhân dân địa phương đã giao quân. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm tổ chức tiếp nhận hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ về địa phương mình."
5/ Điều 38 về hạn tuổi phục vụ của hạ sĩ quan và binh sĩ ở ngạch dự bị, được sửa đổi như sau:
"Điều 38.
Hạn tuổi phục vụ của hạ sĩ quan và binh sĩ ở ngạch dự bị được quy định như sau:
Nam giới, đến hết 45 tuổi;
Nữ giới, đến hết 40 tuổi;"
6/ Điều 39 về chia nhóm quân nhân dự bị nam giới, được sửa đổi như sau:
"Điều 39.
Căn cứ vào lứa tuổi, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị nam giới ở mỗi hạng được chia thành 2 nhóm:
Nhóm A gồm những người đến hết 35 tuổi;
Nhóm B gồm những người từ 36 tuổi đến hết 45 tuổi."
7/ Bỏ khoản 3 Điều 40 về việc huấn luyện quân nhân dự bị ở nhóm C.
8/ Điều 53 về quyền lợi của hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 53.
Hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ:
1- Được bảo đảm cung cấp kịp thời, đủ số lượng, đúng chất lượng về lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, được bảo đảm chỗ ở, phụ cấp hàng tháng và nhu cầu về văn hoá, tinh thần phù hợp với tính chất nhiệm vụ của quân đội theo chế độ, tiêu chuẩn, định lượng do Hội đồng bộ trưởng quy định;
2- Từ năm thứ 2 trở đi, được nghỉ phép theo quy định của Hội đồng bộ trưởng;
3- Từ tháng thứ 25 trở đi, được hưởng thêm 100% phụ cấp hàng tháng;
4- Được tính nhân khẩu ở gia đình khi gia đình được cấp hoặc điều chỉnh diện tích nhà ở, đất xây dựng nhà ở và đất canh tác;
5- Được tính thời gian phục vụ tại ngũ vào thời gian công tác;
6- Được ưu tiên mua vé khi đi lại bằng các phương tiện giao thông thuộc các thành phần kinh tế;
7- Được ưu đãi về bưu phí theo quy định của Hội đồng bộ trưởng."
9/ Điều 54 về quyền lợi của gia đình quân nhân tại ngũ, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 54.
Quyền lợi của gia đình hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ được quy định như sau:
1- Bố hoặc vợ được tạm miễn tham gia lao động công ích trong những trường hợp gia đình thực sự có khó khăn và được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận;
2- Bố, mẹ, vợ và con được hưởng chế độ trợ cấp khó khăn đột xuất theo chính sách chung của Nhà nước; được miễn viện phí khi khám bệnh và chữa bệnh tại các bệnh viện của Nhà nước;
3- Con gửi ở nhà trẻ, học tại các trường mẫu giáo, trường phổ thông của Nhà nước được miễn học phí và tiền đóng góp xây dựng trường."
10/ Điều 55 về chế độ đối với hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 55.
Hạ sĩ quan và binh sĩ khi xuất ngũ được cấp tiền tầu xe, phụ cấp đi đường và trợ cấp xuất ngũ do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Hạ sĩ quan và binh sĩ kể từ ngày có quyết định xuất ngũ được tạm miễn làm nghĩa vụ lao động công ích; cứ mỗi năm phục vụ tại ngũ thì được miễn thời gian nghĩa vụ lao động công ích của một năm.
Thời gian hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị tập trung huấn luyện và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu được trừ vào thời gian nghĩa vụ lao động công ích hàng năm."
Điều 2. Các Điều 69, 70, 71 về việc xử lý các vi phạm được thay bằng Điều 69 mới như sau:
"Điều 69.
1- Người nào vi phạm các quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, gọi quân nhân dự bị tập trung huấn luyện; lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái hoặc cản trở việc thực hiện các quy định trên đây hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2- Quân nhân nào vi phạm các quy định về việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, về việc xuất ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ, về chế độ, quyền lợi của quân nhân hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý theo Điều lệnh kỷ luật của quân đội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự."
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990.
| Võ Chí Công (Đã ký) |
- 1Thông tư liên tịch 74/2006/TTLT-BQP-BTC-BKH&ĐT hướng dẫn Nghị định 123/2003/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với quân nhân tại ngũ do Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành
- 2Thông tư 213/2006/TT-BQP hướng dẫn Nghị định 122/2006/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ do Bộ Quốc phòng ban hành
- 3Luật nghĩa vụ quân sự 1960
- 4Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962
- 5Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965
- 6Nghị định 167-HĐBT năm 1991 sửa đổi Nghị định 50-HĐBT năm 1989 về chế độ nghĩa vụ phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng công an nhân dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 7Nghị định 54-CP năm 1995 về điều lệ phục vụ của Hạ sỹ quan, Binh sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam
- 8Quyết định 595/TTg năm 1993 về chế độ đối với quân nhân, công an nhân dân khi xuất ngũ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 9Nghị quyết về việc thi hành các Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật nghĩa vụ quân sự và Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1990 do Quốc hội ban hành
- 10Thông tư liên tịch 182/2007/TTLT-BQP-BCA-BGD&ĐT-BNV hướng dẫn Nghị định 116/2007/NĐ-CP về giáo dục quốc phòng- an ninh do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ ban hành
- 11Thông tư liên tịch 181/2007/TTLT-BQP-BTC hướng dẫn Nghị định 106/2007/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với gia đình hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ do Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính ban hành
- 12Quyết định 79/2007/QĐ-BGDĐT về Chương trình giáo dục quốc phòng - an ninh cấp trung học phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- 13Chỉ thị 02/CT-BQP về tổng kết thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên và Pháp lệnh dân quân tự vệ do Bộ tưởng Bộ Quốc phòng ban hành
- 14Luật nghĩa vụ quân sự 2015
- 1Thông tư liên tịch 74/2006/TTLT-BQP-BTC-BKH&ĐT hướng dẫn Nghị định 123/2003/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với quân nhân tại ngũ do Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành
- 2Thông tư 213/2006/TT-BQP hướng dẫn Nghị định 122/2006/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ do Bộ Quốc phòng ban hành
- 3Nghị định 38/2007/NĐ-CP về việc tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ thời bình đối với công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ
- 4Luật nghĩa vụ quân sự 1960
- 5Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962
- 6Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965
- 7Hiến pháp năm 1980
- 8Nghị quyết về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Quốc hội ban hành
- 9Nghị định 167-HĐBT năm 1991 sửa đổi Nghị định 50-HĐBT năm 1989 về chế độ nghĩa vụ phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng công an nhân dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 10Nghị định 54-CP năm 1995 về điều lệ phục vụ của Hạ sỹ quan, Binh sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam
- 11Quyết định 595/TTg năm 1993 về chế độ đối với quân nhân, công an nhân dân khi xuất ngũ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 12Nghị quyết về việc thi hành các Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật nghĩa vụ quân sự và Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1990 do Quốc hội ban hành
- 13Thông tư liên tịch 182/2007/TTLT-BQP-BCA-BGD&ĐT-BNV hướng dẫn Nghị định 116/2007/NĐ-CP về giáo dục quốc phòng- an ninh do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ ban hành
- 14Thông tư liên tịch 181/2007/TTLT-BQP-BTC hướng dẫn Nghị định 106/2007/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với gia đình hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ do Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính ban hành
- 15Quyết định 79/2007/QĐ-BGDĐT về Chương trình giáo dục quốc phòng - an ninh cấp trung học phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- 16Chỉ thị 02/CT-BQP về tổng kết thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên và Pháp lệnh dân quân tự vệ do Bộ tưởng Bộ Quốc phòng ban hành
Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1990
- Số hiệu: 46-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 21/12/1990
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 3
- Ngày hiệu lực: 02/01/1991
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2016
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
