Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi năm 1962 được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa II, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 26 tháng 10 năm 1962 và được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Luật Nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960, đáp ứng yêu cầu củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội chính quy và bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của văn bản
Văn bản này áp dụng đối với mọi công dân nam trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc lực lượng thường trực và lực lượng dự bị của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng như Công an nhân dân vũ trang. Đồng thời, luật cũng quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban hành chính các cấp, thủ trưởng các cơ quan nhà nước, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức xã hội trong việc tổ chức, thực hiện công tác tuyển binh và động viên quốc phòng.
Sửa đổi lứa tuổi tuyển quân và thời hạn phục vụ tại ngũ
- Độ tuổi gọi nhập ngũ: Trong thời bình, lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực là từ mười tám (18) đến hai mươi nhăm (25) tuổi. Trong thời chiến, độ tuổi này được mở rộng từ mười tám (18) đến bốn mươi lăm (45) tuổi. Việc quyết định gọi cụ thể từng lứa tuổi ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến sẽ do Hội đồng quốc phòng ấn định.
- Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ:
- Bộ đội lục quân: Thời hạn phục vụ là ba (3) năm.
- Bộ đội không quân: Thời hạn phục vụ là bốn (4) năm.
- Hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân: Thời hạn phục vụ là bốn (4) năm.
- Bộ đội hải quân: Thời hạn phục vụ là năm (5) năm.
- Công an nhân dân vũ trang: Đối với các binh chủng kỹ thuật, thời hạn phục vụ tại ngũ được áp dụng tương đương với thời hạn của các binh chủng, quân chủng tương ứng trong Quân đội nhân dân.
- Quy định về kéo dài thời hạn phục vụ: Trong các trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an có thẩm quyền kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền quản lý, nhưng thời gian kéo dài thêm không được quá bốn (4) tháng.
Chế độ huấn luyện quân sự đối với lực lượng dự bị
- Nghĩa vụ huấn luyện hàng năm: Sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị có trách nhiệm tham gia huấn luyện quân sự định kỳ hàng năm theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
- Thời gian huấn luyện cụ thể cho từng đối tượng:
- Sĩ quan dự bị, hạ sĩ quan kỹ thuật dự bị, binh sĩ kỹ thuật dự bị và những người được lựa chọn để đào tạo thành sĩ quan dự bị phải tham gia huấn luyện quân sự hai mươi nhăm (25) ngày mỗi năm.
- Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị thuộc lực lượng bộ binh phải tham gia huấn luyện quân sự mười lăm (15) ngày mỗi năm.
- Trường hợp đặc biệt: Khi thật sự cần thiết, Hội đồng Chính phủ có quyền quyết định tổ chức huấn luyện quân sự tập trung cho lực lượng quân nhân dự bị với thời gian tối đa không quá tám (8) tháng.
Công tác tuyển binh và động viên thực tập trong thời bình
- Lãnh đạo công tác tuyển binh: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm lãnh đạo toàn diện công tác tuyển binh trên phạm vi cả nước. Ở địa phương, Ủy ban hành chính các cấp có nhiệm vụ chỉ đạo cơ quan quân sự địa phương và các ngành liên quan tổ chức thực hiện.
- Trách nhiệm của các tổ chức, đơn vị: Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác phải có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi và bảo đảm cho công tác tuyển binh tại đơn vị mình đạt kết quả tốt nhất.
- Động viên thực tập: Trong thời bình, căn cứ vào quyết định của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sẽ tổ chức các đợt động viên thực tập cho các địa phương, cơ quan, đơn vị sản xuất. Những người trong diện nghĩa vụ quân sự có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh các mệnh lệnh động viên thực tập từ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chủ tịch Ủy ban hành chính địa phương.
Cơ chế điều hành và thẩm quyền gọi nhập ngũ trong thời chiến
- Thực hiện lệnh động viên: Sau khi Chủ tịch nước công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sẽ ban hành các mệnh lệnh cần thiết để triển khai thực hiện. Ủy ban hành chính các cấp và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, trường học, xí nghiệp có trách nhiệm bảo đảm cho quân nhân dự bị thuộc quyền quản lý chấp hành lệnh động viên một cách nhanh chóng nhất.
- Phân cấp thẩm quyền gọi quân nhân dự bị nhập ngũ trong thời chiến:
- Thủ tướng Chính phủ ra lệnh gọi đối với sĩ quan dự bị cấp tướng.
- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra lệnh gọi đối với quân nhân dự bị từ cấp tá trở xuống.
- Chủ tịch Ủy ban hành chính khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp úy trở xuống (dựa trên mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).
- Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, khu phố ra lệnh gọi đối với hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị (dựa trên mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).
Hiệu lực thi hành
Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định tại văn bản này thay thế cho các điều khoản cũ tương ứng tại Luật Nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc củng cố lực lượng quốc phòng toàn dân và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
LUẬT
Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, luật này quy định những điều sửa đổi và bổ sung sau đây về luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960:
Việc lần lượt gọi các lứa tuổi ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến do Hội đồng quốc phòng định.
Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội không quân là bốn năm.
Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân là bốn năm.
Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân là năm năm.
Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật trong Công an nhân dân vũ trang theo như thời hạn phục vụ tại ngũ của các binh chủng, quân chủng trong Quân đội nhân dân.
Trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ công an có thể kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền mình nhưng không được quá bốn tháng.
Sĩ quan dự bị, hạ sĩ quan kỹ thuật dự bị, binh sĩ kỹ thuật dự bị và những người được chọn để đào tạo thành sĩ quan dự bị mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự hai mươi nhăm ngày.
Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị bộ binh mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự mười lăm ngày.
Trong trường hợp thật cần thiết, Hội đồng Chính phủ quyết định việc tổ chức huấn luyện quân sự tập trung cho quân nhân dự bị trong một thời gian không quá tám tháng.
4. Điều 32 (mới): Sau khi Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra các mệnh lệnh cần thiết để thực hiện.
Uỷ ban hành chính các cấp có nhiệm vụ thi hành mệnh lệnh động viên của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.
Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác có nhiệm vụ bảo đảm cho quân nhân dự bị thuộc tổ chức của mình chấp hành lệnh động viên được nhanh chóng.
1. Điều 27b: Bộ trưởng Bộ quốc phòng lãnh đạo công tác tuyển binh trong toàn quốc.
Uỷ ban hành chính các cấp lãnh đạo cơ quan quân sự địa phương và các ngành có liên quan ở địa phương tổ chức thực hiện việc tuyển binh trong địa phương mình.
Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác có nhiệm vụ bảo đảm cho công tác tuyển binh trong tổ chức của mình tiến hành được tốt.
2. Điều 32b: Việc gọi quân nhân dự bị ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến quy định như sau:
Thủ tướng Chính phủ ra lệnh gọi sĩ quan dự bị cấp tướng;
Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp tá trở xuống;
Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp uý trở xuống;
Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, khu phố ra lệnh gọi hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị.
| Hồ Chí Minh (Đã ký) |
- 1Thông tư liên tịch 74/2006/TTLT-BQP-BTC-BKH&ĐT hướng dẫn Nghị định 123/2003/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với quân nhân tại ngũ do Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành
- 2Luật nghĩa vụ quân sự 1981
- 3Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1990
- 4Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1994
- 1Thông tư liên tịch 74/2006/TTLT-BQP-BTC-BKH&ĐT hướng dẫn Nghị định 123/2003/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với quân nhân tại ngũ do Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành
- 2Hiến pháp năm 1959
- 3Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1990
- 4Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1994
Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1962
- Số hiệu: 50/LCT
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 26/10/1962
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 10/11/1962
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/1982
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
