Thông tư số 39/2013/TT-BCA do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành quy định chi tiết về công tác giáo dục và tư vấn cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm chuẩn bị hành trang kiến thức, tâm lý và kỹ năng cần thiết cho phạm nhân trước khi trở về với gia đình và xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả công tác tái hòa nhập cộng đồng và phòng ngừa tái phạm tội.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Thông tư này quy định cụ thể về nội dung, chương trình giáo dục, hoạt động tư vấn, phương pháp thực hiện, nguồn kinh phí bảo đảm cũng như trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan. Đối tượng áp dụng bao gồm:
- Phạm nhân sắp hết thời hạn chấp hành án phạt tù.
- Phạm nhân đã được đề nghị đặc xá và đang chờ quyết định chính thức của Chủ tịch nước.
- Phạm nhân đã được đề nghị giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại và đang chờ quyết định của Tòa án.
- Các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp đến công tác này.
Nguyên tắc thực hiện và nguồn kinh phí bảo đảm
- Nguyên tắc thực hiện: Công tác giáo dục và tư vấn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Luật Thi hành án hình sự và các văn bản pháp luật liên quan. Nhà nước bảo đảm tạo mọi điều kiện thuận lợi để tất cả phạm nhân thuộc diện sắp chấp hành xong án phạt tù đều được tiếp cận giáo dục, tư vấn đầy đủ, hướng tới mục tiêu tái hòa nhập cộng đồng bền vững.
- Kinh phí bảo đảm: Nguồn kinh phí chi cho việc nghiên cứu, biên soạn tài liệu, in ấn và tổ chức các lớp học được trích từ ngân sách Nhà nước cấp hàng năm cho Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Công an cấp tỉnh và các trại giam, trại tạm giam. Ngoài ra, nguồn kinh phí còn được trích từ kết quả lao động của phạm nhân và các khoản đóng góp hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác. Cán bộ, chiến sĩ và chuyên gia tham gia giảng dạy, tư vấn được hưởng chế độ bồi dưỡng theo quy định liên tịch hiện hành.
Tổ chức tập trung đối tượng được giáo dục
Để việc giáo dục đạt hiệu quả cao, công tác tổ chức, phân loại và tập trung phạm nhân được quy định rõ ràng:
- Tại các trại giam, trước khi phạm nhân hết hạn chấp hành án từ 01 đến 02 tháng, Giám thị sẽ điều chuyển họ về một phân trại chuyên trách để tiện tổ chức lớp học (đối với trại có từ 5 phân trại trở lên có thể bố trí tại 2 phân trại). Trường hợp phân trại quá xa trung tâm (trên 50 km) thì có thể tổ chức tại chỗ.
- Đối với phạm nhân là người nước ngoài, phạm nhân giam riêng hoặc phạm nhân phạm tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, việc giáo dục được linh hoạt tổ chức theo nhóm nhỏ hoặc từng cá nhân cụ thể.
- Tại các trại tạm giam và Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, tùy thuộc vào số lượng phạm nhân thực tế để quyết định gom về một đội (tổ) hoặc giữ nguyên tại chỗ để học tập.
- Đối với phạm nhân nữ, công tác giáo dục bắt buộc phải được tổ chức riêng biệt.
- Đối với diện chờ đặc xá hoặc chờ quyết định giảm hết thời hạn chấp hành án của Tòa án, việc quản lý và giáo dục phải được triển khai ngay sau khi có kết quả thẩm định của Tổ thẩm định liên ngành hoặc văn bản đề nghị của Hội đồng thẩm định có thẩm quyền.
Nội dung, chương trình và tài liệu giáo dục
Chương trình giáo dục được thiết kế toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết pháp luật, kỹ năng sống và các hoạt động bổ trợ:
- Nội dung giáo dục chính: Tập trung phổ biến các quy định pháp luật thiết thân như thủ tục xóa án tích, quyền và nghĩa vụ công dân, luật cư trú, bảo vệ an ninh trật tự, phòng chống tệ nạn xã hội. Đồng thời, cập nhật các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước; giáo dục đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa, trách nhiệm với gia đình; trang bị kỹ năng tìm kiếm việc làm, tâm lý tự tin và khả năng từ chối các cám dỗ, lôi kéo từ đối tượng xấu.
- Chương trình bổ trợ: Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, đọc sách báo, nghe đài, xem truyền hình và các hình thức giải trí lành mạnh khác.
- Đối với các nhóm đặc thù: Tăng cường thời lượng giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho phạm nhân chưa thành niên. Đối với phạm nhân người nước ngoài, tập trung dạy tiếng Việt, giới thiệu văn hóa truyền thống và các quy định pháp luật về cư trú, xuất nhập cảnh của Việt Nam.
- Tài liệu giáo dục: Do Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn thống nhất, có sự điều chỉnh, bổ sung số liệu thực tế tại địa phương để tăng tính thuyết phục.
Phương pháp, hình thức và cán bộ giáo dục
- Phương pháp giáo dục: Tổ chức theo mô hình lớp học tập trung, có giáo viên giảng bài, thảo luận nhóm, kết hợp tự nghiên cứu. Cuối khóa học, phạm nhân phải làm bài kiểm tra viết thu hoạch, đồng thời thực hiện việc khai báo, tố giác tội phạm hoặc đóng góp ý kiến xây dựng công tác quản lý của trại. Ngoài ra, các trại có thể áp dụng hình thức truyền thông nội bộ qua loa phát thanh, bảng tin, pa-nô hoặc mời các gương điển hình tái hòa nhập thành công, các doanh nghiệp đến giao lưu, định hướng nghề nghiệp.
- Cán bộ giáo dục: Là lãnh đạo, cán bộ nghiệp vụ của trại giam, trại tạm giam có trình độ đại học trở lên, có kỹ năng sư phạm và tâm lý học. Các đơn vị cũng được phép mời giáo viên, báo cáo viên từ các cơ quan tư pháp, giáo dục, Hội Luật gia, Hội Liên hiệp Thanh niên tham gia giảng dạy.
Thời gian giáo dục và quản lý hồ sơ
- Thời gian học tập: Đối với phạm nhân sắp hết hạn tù, thời gian học tối thiểu là 15 ngày (trừ ngày nghỉ, lễ, Tết). Đối với diện chờ đặc xá hoặc chờ quyết định giảm hết thời hạn chấp hành án của Tòa án, việc học tập phải được tiến hành liên tục từ khi có danh sách đề nghị cho đến ngày công bố quyết định chính thức.
- Quản lý hồ sơ: Toàn bộ kế hoạch, quyết định mở lớp, danh sách học viên, bài kiểm tra thu hoạch và báo cáo đánh giá kết quả phải được lưu giữ đầy đủ trong hồ sơ để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra.
Công tác tư vấn cho phạm nhân
Hoạt động tư vấn được thực hiện song song với giáo dục nhằm giải quyết các vướng mắc cụ thể, mang tính cá nhân của từng phạm nhân:
- Nội dung tư vấn: Giải đáp các vấn đề về tâm lý, tình cảm, hôn nhân gia đình, sức khỏe, phòng chống HIV/AIDS. Hướng dẫn chi tiết các thủ tục hành chính cần thiết sau khi ra tù như đăng ký thường trú, tạm trú, làm căn cước công dân, thủ tục vay vốn, đăng ký kinh doanh, học nghề và tìm kiếm việc làm.
- Phương pháp tư vấn: Phạm nhân có thể đăng ký trực tiếp hoặc ghi phiếu yêu cầu. Việc tư vấn được thực hiện linh hoạt theo cá nhân, nhóm hoặc tập thể. Tư vấn riêng phải được thực hiện tại phòng tư vấn chuyên biệt có trang bị đầy đủ bàn ghế, phương tiện làm việc. Cán bộ tư vấn phải ghi chép nhật ký và báo cáo kết quả cho lãnh đạo.
- Cán bộ tư vấn: Yêu cầu cán bộ có trình độ từ trung cấp trở lên, có khả năng giao tiếp, thuyết phục. Trại giam có thể mời các chuyên gia y tế, luật sư, chuyên viên tư vấn việc làm từ các cơ quan bên ngoài vào hỗ trợ.
- Thời gian tư vấn: Được thực hiện ngay khi có yêu cầu. Đối với các trường hợp khẩn cấp có nguy cơ ảnh hưởng đến tư tưởng, tính mạng của phạm nhân hoặc người khác, việc tư vấn phải được tiến hành ngay lập tức, không kể giờ giấc hay ngày nghỉ.
Phối hợp hoạt động và chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng
Sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thi hành án và chính quyền địa phương là yếu tố quyết định sự thành công của chính sách:
- Phối hợp lực lượng: Các trại giam chủ động phối hợp với lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính, Cảnh sát giao thông tại địa phương để hướng dẫn pháp luật giao thông, hỗ trợ làm thủ tục cấp đổi giấy tờ tùy thân cho phạm nhân trước khi phóng thích.
- Thông báo về địa phương: Trước khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù hoặc có kết quả đề nghị đặc xá, giảm án 02 tháng, các trại giam phải gửi thông báo bằng văn bản kèm danh sách, kết quả cải tạo về Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân sẽ về cư trú để địa phương chủ động lập phương án tiếp nhận, phân công lực lượng (đặc biệt là Cảnh sát khu vực, Công an xã) theo dõi, giúp đỡ.
- Xử lý trường hợp không rõ nơi cư trú: Trước 02 tháng, nếu không xác định được nơi cư trú của phạm nhân, các đơn vị phải phối hợp với Công an các địa phương để xác minh nhân thân. Nếu vẫn không xác định được, sẽ đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trại giam đóng quân hoặc các tổ chức xã hội tiếp nhận. Trường hợp phạm nhân tự nguyện, Giám thị có thể làm thủ tục đưa họ vào làm việc tại các cơ sở sản xuất của Bộ Công an.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 39/2013/TT-BCA có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2013. Các quy định trước đây của Bộ Công an liên quan đến công tác giáo dục và tư vấn cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù trái với Thông tư này đều bị bãi bỏ. Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp chịu trách nhiệm chính trong việc chỉ đạo, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ CÔNG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 39/2013/TT-BCA | Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2013 |
QUY ĐỊNH VỀ GIÁO DỤC VÀ TƯ VẤN CHO PHẠM NHÂN SẮP CHẤP HÀNH XONG ÁN PHẠT TÙ
Căn cứ Luật Thi hành án hình sự năm 2010;
Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;
Căn cứ Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù;
Căn cứ Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT ngày 06 tháng 02 năm 2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và chế độ sinh hoạt; giải trí cho phạm nhân;
Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp;
Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định về giáo dục và tư vấn cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù,
Thông tư này quy định nội dung, chương trình giáo dục và hoạt động tư vấn cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù.
Thông tư này áp dụng đối với phạm nhân sắp hết thời hạn chấp hành án phạt tù, phạm nhân đã được đề nghị đặc xá đang chờ quyết định của Chủ tịch nước, phạm nhân đã được đề nghị, giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù (gọi chung là phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù) tại các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
1. Tuân thủ quy định của Luật Thi hành án hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan.
2. Tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm cho tất cả phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù đều được giáo dục và tư vấn để tái hòa nhập cộng đồng, góp phần phòng ngừa tái phạm và vi phạm pháp luật.
1. Nguồn kinh phí cho việc tổ chức nghiên cứu, biên soạn nội dung, chương trình, in ấn tài liệu và tổ chức thực hiện việc giáo dục, tư vấn cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù bao gồm:
a) Ngân sách Nhà nước bảo đảm trong dự toán kinh phí hàng năm của Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, của Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và của các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an;
b) Trích kinh phí thu được từ kết quả lao động của phạm nhân theo quy định của pháp luật;
c) Đóng góp của các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
2. Việc quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Cán bộ, chiến sỹ Công an và những người khác đến tham gia giáo dục, tư vấn cho phạm nhân được chi bồi dưỡng theo mức quy định tại khoản 1, 2, Điều 16 Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT ngày 06/02/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân.
GIÁO DỤC CHO PHẠM NHÂN SẮP CHẤP HÀNH XONG ÁN PHẠT TÙ
Điều 5. Tổ chức tập trung đối tượng được giáo dục
1. Đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam: Trước khi phạm nhân hết thời hạn chấp hành án phạt tù từ một tháng đến hai tháng, Giám thị trại giam điều chuyển phạm nhân về một phân trại để tổ chức giáo dục; đối với trại giam có từ 5 phân trại trở lên thì có thể điều chuyển về 2 phân trại để tổ chức giáo dục. Trường hợp phân trại giam ở cách xa trung tâm từ 50 km trở lên thì có thể điều chuyển hoặc giữ nguyên tại phân trại đang quản lý phạm nhân để tổ chức giáo dục. Đối với phạm nhân là người nước ngoài, phạm nhân đang giam riêng, phạm nhân phạm tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, không tập trung theo đội (tổ) thì phải tổ chức giáo dục theo nhóm hoặc từng cá nhân theo nội dung, chương trình quy định.
2. Đối với phạm nhân đang chấp hành án tại các trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện: Tùy theo số lượng phạm nhân, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quyết định điều chuyển về một đội (tổ) phạm nhân hoặc giữ nguyên tại đội (tổ), nơi họ đang chấp hành án phạt tù để tổ chức giáo dục.
3. Đối với số phạm nhân đã được đề nghị xét đặc xá đang chờ quyết định của Chủ tịch nước hoặc đã được đề nghị giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù đang chờ quyết định của Tòa án: Ngay sau khi Tổ thẩm định liên ngành của Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương xét duyệt xong hoặc ngay sau khi Hội đồng thẩm định xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Hội đồng của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có văn bản đề nghị giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù, Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tổ chức quản lý theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này để tổ chức giáo dục và tư vấn cho họ.
4. Đối với phạm nhân nữ sắp chấp hành xong án phạt tù được tổ chức giáo dục riêng.
Điều 6. Nội dung, chương trình giáo dục
1. Nội dung, chương trình giáo dục chính, bao gồm:
a) Giáo dục pháp luật: Các quy định về xóa án tích, về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; quy định của pháp luật về cư trú, về bảo vệ an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội;
b) Phổ biến một số chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và các thành tựu về phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng;
c) Giáo dục về chính sách đại đoàn kết dân tộc; về đạo đức, lối sống, nghị lực lập thân, lập nghiệp, nếp sống văn hóa, ý thức chấp hành các quy tắc đạo đức xã hội; trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội;
d) Giáo dục về hòa nhập cộng đồng; kỹ năng tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống, khắc phục khó khăn, thách thức của cuộc sống, từ chối việc rủ rê, lôi kéo của các đối tượng xấu và phòng tránh các tệ nạn xã hội.
2. Chương trình giáo dục bổ trợ bao gồm: Tổ chức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, đọc sách báo, nghe các chương trình phát thanh, xem video, truyền hình của Trung ương, địa phương và các hoạt động vui chơi, giải trí khác.
3. Đối với số phạm nhân là người chưa thành niên, cần tăng thời lượng giáo dục về đạo đức, kĩ năng sống và tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí.
4. Đối với phạm nhân là người nước ngoài, tiếp tục dạy tiếng Việt, giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc và pháp luật Việt Nam, đặc biệt là các quy định về cư trú, thủ tục xuất, nhập cảnh.
Điều 7. Phương pháp, hình thức giáo dục
1. Tổ chức giáo dục phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù theo các lớp học, có cán bộ, giáo viên, chuyên gia giảng bài, giới thiệu chuyên đề, cán bộ quản giáo theo dõi, hướng dẫn thảo luận theo đội (tổ), kết hợp phát tài liệu cho phạm nhân tự nghiên cứu, học tập và thảo luận. Kết thúc lớp học, cần tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả, cho phạm nhân viết thu hoạch, khai báo, tố giác tội phạm và các hành vi sai phạm của phạm nhân khác, tham gia ý kiến vào việc khắc phục sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân.
2. Kết hợp tổ chức truyền thông với các hình thức phát thanh, truyền hình cáp nội bộ, video, bảng tin, pa nô, áp phích hoặc tự nghiên cứu tài liệu.
3. Có thể mời những người đã chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương làm kinh tế có hiệu quả hoặc tham gia tích cực các hoạt động xã hội, các phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và các doanh nghiệp đến tọa đàm, trao đổi thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, việc làm, định hướng nghề nghiệp, phổ biến kinh nghiệm sống, hòa nhập cộng đồng, tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống cho phạm nhân. Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định việc mời các cơ quan, tổ chức, cá nhân đến thông tin, trao đổi với phạm nhân bảo đảm mục tiêu, yêu cầu và hiệu quả giáo dục.
4. Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, các cuộc thi tìm hiểu, thi kĩ năng thực hành và các hoạt động giáo dục khác bằng các hình thức phong phú, đa dạng.
1. Chương trình, nội dung, tài liệu giáo dục do Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn phù hợp với yêu cầu giáo dục, thời điểm, trình độ nhận thức, đặc điểm vùng miền nơi phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù về cư trú.
2. Các trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nghiên cứu, sưu tầm, bổ sung tài liệu, số liệu và dẫn chứng cụ thể ở đơn vị, địa phương để tham khảo, minh họa hoặc báo cáo thực tế nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu, nội dung giáo dục.
1. Cán bộ làm nhiệm vụ giáo dục, giảng bài cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù là lãnh đạo đơn vị, cán bộ các đội nghiệp vụ của trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trình độ đại học hoặc các cán bộ có năng lực, trình độ, kinh nghiệm công tác, có kiến thức về giáo dục, tâm lý, sư phạm.
2. Các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể mời giáo viên, báo cáo viên hoặc người có chuyên môn về pháp luật, giáo dục công dân có trình độ đại học hoặc cán bộ có năng lực, trình độ, kinh nghiệm công tác, có kiến thức về giáo dục, tâm lý, sư phạm của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Công an các đơn vị, địa phương, các cơ sở giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Hội Liên hiệp thanh niên và Hội Luật gia của các tỉnh, thành phố tham gia giảng bài cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù.
1. Đối với số phạm nhân sắp hết thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời gian tổ chức giáo dục bắt đầu từ khi phạm nhân được điều chuyển về phân trại hoặc khu giam giữ dành riêng cho số đối tượng này. Thời gian học tập không dưới 15 ngày, trừ ngày chủ nhật, ngày lễ, Tết được nghỉ theo quy định.
2. Đối với số phạm nhân đã được đề nghị xét đặc xá đang chờ quyết định của Chủ tịch nước, thời gian tổ chức giáo dục bắt đầu từ khi Tổ thẩm định liên ngành của Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương xét duyệt xong đến khi công bố quyết định đặc xá. Thời gian học tập phải tiến hành liên tục, trừ ngày chủ nhật, ngày lễ, Tết được nghỉ theo quy định.
3. Đối với phạm nhân ở trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đã được Hội đồng thẩm định xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Hội đồng của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đề nghị giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù đang chờ quyết định của Tòa án, thời gian tổ chức giáo dục bắt đầu từ khi các Hội đồng nói trên có văn bản đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đến khi công bố quyết định giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù. Thời gian học tập phải tiến hành liên tục, trừ ngày chủ nhật, ngày lễ, Tết được nghỉ theo quy định.
4. Tùy theo số lượng đối tượng tập trung giáo dục và thời gian cụ thể, Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quyết định lịch học và bố trí cán bộ tổ chức quản lý, giáo dục cho phù hợp.
Điều 11. Quản lý hồ sơ, tài liệu
Các quyết định và kế hoạch tổ chức thực hiện của Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện về việc mở lớp giáo dục đối với phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù và các tài liệu liên quan (thời gian, địa điểm, số lượng, danh sách phạm nhân, nội dung giáo dục, phân công cán bộ, kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm, bài kiểm tra, báo cáo đánh giá kết quả học tập) phải được lưu giữ để phục vụ công tác tổng hợp, theo dõi và kiểm tra, thanh tra khi cần thiết.
TƯ VẤN CHO PHẠM NHÂN SẮP CHẤP HÀNH XONG ÁN PHẠT TÙ
Tư vấn cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù nhằm cung cấp kiến thức, định hướng và nâng cao khả năng tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng. Nội dung tư vấn bao gồm:
1. Tư vấn pháp luật, tâm lý, tình cảm, hôn nhân, gia đình, sức khỏe, phòng, chống ma túy, HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội.
2. Tư vấn, hỗ trợ về các thủ tục hành chính như: Đăng ký thường trú, tạm trú, thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng; cấp, đổi giấy Chứng minh nhân dân; các thủ tục vay vốn, đăng ký kinh doanh, học nghề và các vấn đề khác có liên quan.
3. Tư vấn về lao động, việc làm, sử dụng các ngành nghề đã được học, bảo hiểm xã hội và các vấn đề khác có liên quan.
1. Các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tổ chức cho phạm nhân trực tiếp trình bày, đăng ký tư vấn, ghi phiếu nêu các nội dung cần được tư vấn hoặc chủ động phát hiện các vướng mắc cần được tư vấn của phạm nhân, từ đó phân công cán bộ có hiểu biết về các lĩnh vực để tư vấn trực tiếp cho phạm nhân. Có thể tư vấn cho từng cá nhân, nhóm hoặc tập thể đông người có cùng nội dung tư vấn.
2. Việc tổ chức tư vấn riêng phải được thực hiện trong các phòng tư vấn. Các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cần bố trí phòng tư vấn có trang bị bàn ghế làm việc và các phương tiện cần thiết phục vụ cho việc tư vấn. Sau mỗi lần tư vấn, cán bộ tư vấn phải ghi chép, theo dõi và đánh giá, báo cáo với lãnh đạo trực tiếp về kết quả thực hiện.
1. Cán bộ tư vấn cho phạm nhân là lãnh đạo đơn vị, cán bộ các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trình độ từ Trung học hoặc tương đương trở lên, có khả năng thực hiện công tác tư vấn.
2. Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể mời cán bộ của ngành Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo, Hội Luật gia, Hội Liên hiệp Thanh niên, trường Đại học, Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS, Trung tâm tư vấn việc làm, các doanh nghiệp hoặc các cơ quan chức năng khác đến tư vấn cho phạm nhân. Những người thuộc Cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội đến tư vấn cho phạm nhân phải được lãnh đạo cơ quan, tổ chức đó giới thiệu đến làm việc bằng văn bản và được Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đồng ý bố trí tư vấn cho phạm nhân.
Khi nhận được phiếu đăng ký tư vấn hoặc phát hiện phạm nhân có vấn đề cần tư vấn, Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải cử cán bộ tư vấn cho phạm nhân. Những trường hợp cần thiết, nếu không được tư vấn có thể ảnh hưởng xấu đến tư tưởng phạm nhân, đe dọa đến tính mạng của họ hoặc người khác thì phải tư vấn ngay, kể cả ngoài giờ hành chính, ngày nghỉ, lễ, Tết.
Điều 16. Phối hợp hoạt động giáo dục, tư vấn, tạo điều kiện cho phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng
1. Các trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh và cấp huyện chủ động phối hợp với Lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cảnh sát giao thông và các đơn vị chức năng khác có liên quan thuộc Công an các địa phương tổ chức tham gia giáo dục, tư vấn việc chấp hành pháp luật về giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, trật tự, an toàn giao thông; cấp, đổi giấy Chứng minh nhân dân và các nội dung thiết yếu khác cho phạm nhân.
2. Công an các cấp ở địa phương cần có kế hoạch tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo các tổ chức, đoàn thể xã hội, vận động các doanh nghiệp trên địa bàn nơi trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đóng quân để tham gia giáo dục, tư vấn, cung cấp các thông tin về lao động, việc làm cho số phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù và tổ chức tiếp nhận, giúp đỡ, tạo điều kiện cho họ có việc làm, ổn định cuộc sống sau khi chấp hành xong án phạt tù.
3. Thông qua việc tổ chức thăm gặp, hội nghị gia đình phạm nhân, các hoạt động khác và các phương tiện thông tin đại chúng, các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tuyên truyền, khuyến khích các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục, tư vấn và giúp đỡ, tạo các điều kiện cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng.
4. Các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trong điều kiện, khả năng của mình, chủ động quan hệ, phối hợp và giới thiệu, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù trong việc học nghề, tìm kiếm việc làm.
1. Hai tháng trước khi phạm nhân sắp hết thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc sau khi có kết quả thẩm định của Tổ thẩm định liên ngành của Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương nhất trí đề nghị đặc xá cho phạm nhân hoặc sau khi Hội đồng thẩm định xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có thẩm quyền đồng ý đề nghị giảm hết thời hạn cho phạm nhân, các trại giam, trại tạm giam lập danh sách, thông báo kết quả chấp hành án phạt tù, hình phạt bổ sung mà phạm nhân còn phải chấp hành và thông tin cần thiết khác có liên quan gửi Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú để có kế hoạch tiếp tục quản lý, giáo dục và tạo điều kiện cho họ tái hòa nhập cộng đồng.
Đối với phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù là người địa phương khác thì Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú để quản lý, giáo dục và giúp đỡ họ.
2. Sau khi nhận được danh sách phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù do các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh chuyển đến, Công an cấp huyện chỉ đạo cán bộ, chiến sỹ, nhất là Cảnh sát khu vực, Cảnh sát phụ trách xã chủ động nắm chắc hoàn cảnh từng người sắp chấp hành xong án phạt tù trở về để có kế hoạch gặp gỡ, động viên, quản lý, giáo dục, giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng khi trở về địa phương.
Điều 18. Quản lý người chấp hành xong án phạt tù không rõ nơi cư trú
Hai tháng trước khi phạm nhân không xác định rõ nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú hết thời hạn chấp hành án phạt tù, Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có văn bản đề nghị Công an các địa phương có liên quan để phối hợp xác minh nhân thân của phạm nhân và xác định lại nơi cư trú.
Trường hợp không xác định được nơi về cư trú của phạm nhân thì trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân chấp hành án hoặc cơ quan, tổ chức khác, để tiếp nhận người chấp hành xong án phạt tù về cư trú. Nếu họ tự nguyện thì Giám thị trại giam, trại tạm giam xem xét, làm thủ tục đưa vào cơ sở sản xuất của Bộ Công an (nếu có) theo quy định của pháp luật.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2013. Các quy định trước đây của Bộ Công an về giáo dục và tư vấn cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
1. Các Tổng cục trưởng, Thủ trưởng đơn vị thuộc Bộ, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám thị trại giam, trại tạm giam, Trưởng Công an cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này.
2. Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp chịu trách nhiệm giúp Bộ trưởng chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư này.
Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp) để có hướng dẫn kịp thời.
- 1Thông tư 71/2012/TT-BCA quy định về phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp giữa đơn vị Công an nhân dân trong việc thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 2Thông báo 283/TB-VPCP năm 2013 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá năm 2013 tại Hội nghị triển khai công tác đặc xá năm 2013 và sơ kết 01 năm thực hiện Nghị định 80/2011/NĐ-CP quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3Thông tư liên tịch 12/2013-TTLT-BCA-BQP-BTC hướng dẫn về chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động, học nghề của phạm nhân trong trại giam do Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính ban hành
- 4Thông tư 07/2018/TT-BCA về quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 5Thông tư 06/2018/TT-BCA về quy định tiêu chuẩn thi đua trong chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 6Quyết định 22/2023/QĐ-TTg về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1Luật thi hành án hình sự 2010
- 2Nghị định 80/2011/NĐ-CP quy định biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù
- 3Thông tư liên tịch 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT hướng dẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân do Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Bộ Tư pháp - Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- 4Thông tư 71/2012/TT-BCA quy định về phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp giữa đơn vị Công an nhân dân trong việc thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 5Thông báo 283/TB-VPCP năm 2013 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá năm 2013 tại Hội nghị triển khai công tác đặc xá năm 2013 và sơ kết 01 năm thực hiện Nghị định 80/2011/NĐ-CP quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 6Thông tư liên tịch 12/2013-TTLT-BCA-BQP-BTC hướng dẫn về chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động, học nghề của phạm nhân trong trại giam do Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính ban hành
- 7Thông tư 07/2018/TT-BCA về quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 8Thông tư 06/2018/TT-BCA về quy định tiêu chuẩn thi đua trong chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 9Quyết định 22/2023/QĐ-TTg về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Thông tư 39/2013/TT-BCA quy định về giáo dục và tư vấn cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- Số hiệu: 39/2013/TT-BCA
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 25/09/2013
- Nơi ban hành: Bộ Công An
- Người ký: Trần Đại Quang
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 655 đến số 656
- Ngày hiệu lực: 15/11/2013
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
