Pháp lệnh Tổ chức Toà án quân sự năm 1993 được ban hành bởi Ủy ban thường vụ Quốc hội và được ký thực hiện bởi Chủ tịch nước Lê Đức Anh, nhằm thiết lập hệ thống tổ chức, thẩm quyền và nguyên tắc hoạt động của các Toà án quân sự trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là văn bản pháp lý quan trọng góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kỷ luật quân đội, an ninh quốc phòng, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng và công dân.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Toà án quân sự
Toà án quân sự là các cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức trong quân đội. Thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự được áp dụng đối với các vụ án hình sự mà bị cáo thuộc các nhóm đối tượng sau:
- Quân nhân tại ngũ, công nhân, nhân viên quốc phòng; quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu.
- Dân quân tự vệ phối thuộc chiến đấu với quân đội và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý.
- Những người không thuộc các đối tượng trên nhưng phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội.
- Đối với người đã xuất ngũ mà phát hiện tội phạm thực hiện trong thời gian phục vụ quân đội, hoặc người đang phục vụ quân đội mà phát hiện tội phạm thực hiện trước khi vào quân đội: Toà án quân sự chỉ xét xử nếu tội phạm liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội; các tội phạm khác sẽ do Toà án nhân dân xét xử.
- Trong trường hợp vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự, vừa có đối tượng thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân: Toà án quân sự sẽ xét xử toàn bộ vụ án. Nếu có thể tách riêng thì Toà án quân sự chỉ xét xử các bị cáo thuộc thẩm quyền của mình, phần còn lại chuyển giao cho Toà án nhân dân.
Các nguyên tắc hoạt động cốt lõi trong xét xử
- Độc lập xét xử: Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm quân nhân hoàn toàn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
- Bình đẳng trong xét xử: Hội thẩm quân nhân tham gia xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng và có quyền hạn ngang với Thẩm phán.
- Xét xử tập thể: Toà án quân sự xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
- Xét xử công khai: Các phiên toà được xét xử công khai, trừ trường hợp đặc biệt cần xét xử kín để bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự hoặc thuần phong mỹ tục của dân tộc.
- Bảo đảm quyền bào chữa và ngôn ngữ: Toà án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự và quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Toà án.
- Hiệu lực thi hành bản án: Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự phải được các cơ quan, đơn vị vũ trang, tổ chức và mọi công dân tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành.
- Phòng ngừa tội phạm: Toà án quân sự có quyền ra kiến nghị yêu cầu các đơn vị, tổ chức áp dụng biện pháp khắc phục nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm. Thủ trưởng đơn vị nhận được kiến nghị phải nghiên cứu và thông báo kết quả thực hiện cho Toà án trong vòng 30 ngày.
Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của các cấp Toà án quân sự
Hệ thống Toà án quân sự được phân chia thành ba cấp cụ thể:
1. Toà án quân sự trung ương
- Vị trí và cơ cấu: Thuộc cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tối cao. Gồm có Chánh án (đồng thời là Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao), các Phó Chánh án, Thẩm phán (là Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao), Hội thẩm quân nhân và Thư ký Toà án.
- Uỷ ban Thẩm phán Toà án quân sự trung ương: Gồm Chánh án, các Phó Chánh án và một số Thẩm phán do Chánh án Toà án nhân dân tối cao cử. Cơ quan này có nhiệm vụ hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử và thông qua báo cáo công tác xét xử.
- Thẩm quyền: Sơ thẩm đồng thời chung thẩm các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, hoặc bị cáo là người có quân hàm cấp tướng, người giữ chức vụ Chỉ huy trưởng sư đoàn, Cục trưởng trở lên; phúc thẩm các vụ án bị kháng cáo, kháng nghị từ cấp dưới trực tiếp; giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
2. Toà án quân sự quân khu và tương đương
- Cơ cấu: Gồm Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm quân nhân và Thư ký Toà án. Có Uỷ ban Thẩm phán riêng để thực hiện công tác giám đốc thẩm, tái thẩm, tổng kết kinh nghiệm và bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật.
- Thẩm quyền: Sơ thẩm các vụ án không thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự khu vực hoặc lấy lên từ cấp dưới; phúc thẩm các vụ án bị kháng cáo, kháng nghị từ Toà án quân sự khu vực; giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án đã có hiệu lực pháp luật của cấp dưới bị kháng nghị.
3. Toà án quân sự khu vực
- Cơ cấu: Gồm Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm quân nhân và Thư ký Toà án.
- Thẩm quyền: Sơ thẩm các vụ án hình sự về các tội phạm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự mà bị cáo khi phạm tội hoặc bị khởi tố có quân hàm từ Thiếu tá trở xuống, hoặc giữ chức vụ từ Phó chỉ huy trưởng trung đoàn và tương đương trở xuống.
Tiêu chuẩn, bổ nhiệm và nhiệm kỳ của Thẩm phán, Hội thẩm quân nhân
- Tiêu chuẩn Thẩm phán: Phải là sĩ quan quân đội nhân dân tại ngũ, có kiến thức pháp lý và tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Tiêu chuẩn Hội thẩm quân nhân: Là quân nhân tại ngũ, công nhân, nhân viên quốc phòng có kiến thức pháp lý và tinh thần bảo vệ pháp chế.
- Bổ nhiệm Thẩm phán: Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Toà án quân sự các cấp do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức với nhiệm kỳ là 05 năm.
- Cử Hội thẩm quân nhân: Nhiệm kỳ của Hội thẩm quân nhân là 05 năm. Hội thẩm quân nhân cấp trung ương do Uỷ ban thường vụ Quốc hội cử; cấp quân khu do Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cử; cấp khu vực do Chủ nhiệm chính trị quân khu hoặc tương đương cử.
- Số lượng và biên chế: Số lượng Thẩm phán, Hội thẩm quân nhân và biên chế của Toà án quân sự trung ương do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định. Đối với các cấp dưới, tổng biên chế do Chính phủ quyết định.
Công tác quản lý, bảo đảm hoạt động và thi hành pháp lệnh
- Quản lý tổ chức: Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chánh án Toà án nhân dân tối cao quản lý các Toà án quân sự quân khu và khu vực về mặt tổ chức.
- Thuyên chuyển Thẩm phán: Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định thuyên chuyển Thẩm phán giữa các Toà án quân sự cùng cấp.
- Kinh phí hoạt động: Do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Tư pháp và Toà án nhân dân tối cao lập dự toán đề nghị Chính phủ trình Quốc hội quyết định.
- Bảo vệ an ninh: Lực lượng cảnh vệ trong Quân đội nhân dân có nhiệm vụ canh giữ, áp giải bị cáo, bảo vệ phiên toà và nơi làm việc của Toà án quân sự.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh Tổ chức Toà án quân sự năm 1993 có hiệu lực thay thế hoàn toàn các Pháp lệnh về tổ chức Toà án quân sự đã ban hành trước đây. Mọi quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ. Chính phủ và Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành chi tiết Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 11-L/CTN | Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 1993 |
SỐ 11-L/CTN NGÀY 19/04/1993 CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI VỀ TỔ CHỨC TOÀ ÁN QUÂN SỰ
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Điều 78 của luật Tổ chức Quốc hội,
NAY CÔNG BỐ:
Pháp lệnh Tổ chức Toà án quân sự đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá IX) thông qua ngày 19 tháng 4 năm 1993.
Căn cứ vào Điều 91 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Luật Tổ chức Toà án nhân dân;
Căn cứ vào nhiệm vụ và tổ chức của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Pháp lệnh này quy định về tổ chức và hoạt động của các Toà án quân sự.
Trong phạm vi chức năng của mình, các Toà án quân sự có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷ luật quân đội; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của quân nhân, công nhân, nhân viên quốc phòng và của các công dân khác.
Bằng hoạt động của mình, các Toà án quân sự góp phần giáo dục quân nhân và công nhân, nhân viên quốc phòng trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, điều lệnh của quân đội, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
- Toà án quân sự trung ương;
- Các Toà án quân sự quân khu và tương đương;
- Các Toà án quân sự khu vực.
2- Căn cứ vào nhiệm vụ và tổ chức của quân đội, Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi đã thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Chánh án Toà án nhân dân tối cao, quyết định thành lập, giải thể Toà án quân sự quân khu và tương đương, Toà án quân sự khu vực.
Các Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là:
Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán, chế độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với các Toà án quân sự.
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm quân nhân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Toà án quân sự xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
Thành phần Hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử do pháp luật tố tụng quy định.
Cá nhân, đơn vị, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Toà án quân sự phải nghiêm chỉnh chấp hành.
Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Toà án quân sự phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó.
Trong trường hợp cần thiết, cùng với việc ra bản án, quyết định,
Toà án quân sự ra kiến nghị yêu cầu thủ trưởng đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp khắc phục nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm hoặc vi phạm pháp luật tại đơn vị, cơ quan, tổ chức đó.
Thủ trưởng đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan, tổ chức nhận được kiến nghị, có trách nhiệm nghiên cứu thực hiện và trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị phải thông báo cho Toà án quân sự về việc đó.
TỔ CHỨC, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA TOÀ ÁN QUÂN SỰ CÁC CẤP
Mục A: TOÀ ÁN QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG
1- Toà án quân sự trung ương thuộc cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tối cao.
2- Toà án quân sự trung ương có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm quân nhân, Thư ký Toà án.
1- Toà án quân sự trung ương có thẩm quyền:
a) Sơ thẩm đồng thời chung thẩm những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp; những vụ án mà bị cáo khi phạm tội hoặc khi bị khởi tố có quân hàm cấp tướng hoặc là người có chức vụ Chỉ huy trưởng sư đoàn, Cục trưởng và cấp tương đương trở lên; những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự quân khu và tương đương nhưng Toà án quân sự trung ương lấy lên để xét xử.
b) Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của các Toà án quân sự cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị;
c) Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án quân sự cấp dưới trực tiếp bị kháng nghị.
2- Toà án quân sự trung ương giám đốc việc xét xử của các Toà án quân sự cấp dưới.
2- Uỷ ban Thẩm phán Toà án quân sự trung ương gồm có:
- Chánh án, các Phó Chánh án Toà án quân sự trung ương;
- Một số Thẩm phán Toà án quân sự trung ương được Chánh án Toà án nhân dân tối cao cử theo đề nghị của Chánh án Toà án quân sự trung ương.
3- Uỷ ban Thẩm phán Toà án quân sự trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán, văn bản hướng dẫn của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn cụ thể việc áp dụng thống nhất pháp luật tại các Toà án quân sự;
- Tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Toà án quân sự;
- Thông qua báo cáo của Chánh án Toà án quân sự trung ương về công tác xét xử của các Toà án quân sự để báo cáo với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
4- Quyết định của Uỷ ban Thẩm phán Toà án quân sự trung ương phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
1- Chánh án Toà án quân sự trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Tổ chức công tác xét xử;
- Chủ toạ các phiên họp của Uỷ ban Thẩm phán Toà án quân sự trung ương.
- Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án quân sự cấp dưới theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội đồng quân nhân và cán bộ Toà án của các Toà án quân sự;
- Tổ chức việc kiểm tra công tác xét xử của các Toà án quân sự cấp dưới;
- Báo cáo công tác xét xử của các Toà án quân sự với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
2- Phó Chánh án giúp Chánh án làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án.
Toà án quân sự quân khu và tương đương có thẩm quyền:
2- Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị;
3- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự cấp dưới bị kháng nghị.
1- Toà án quân sự quân khu và tương đương có Uỷ ban thẩm phán.
2- Uỷ ban Thẩm phán Toà án quân sự quân sự quân khu và tương đương gồm có:
- Chánh án, các Phó chánh án Toà án quân sự quân khu và tương đương;
- Một số Thẩm phán được Chánh án Toà án quân sự trung ương cử theo đề nghị của Chán án Toà án quân sự quân khu và tương đương.
3- Uỷ ban Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và tương đương có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án quân sự cấp dưới bị kháng nghị;
- Bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật tại Toà án quân sự cấp mình và các Toà án quân sự cấp dưới;
- Tổng kết kinh nghiệm xét xử;
- Thông qua báo cáo của Chánh án Toà án quân sự quân khu và tương đương về công tác xét xử của các Toà án quân sự trong quân khu và tương đương để báo cáo với Toà án quân sự trung ương, Tư lệnh quân khu và tương đương.
4- Quyết định của Uỷ ban Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và tương đương phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
1- Chánh án Toà án quân sự quân khu và tương đương có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức công tác xét xử;
- Chủ toạ các phiên họp của Uỷ ban Thẩm phán;
- Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án quân sự cấp dưới theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Tổ chức việc kiểm tra công tác xét xử của các Toà án quân sự cấp dưới;
- Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm quân nhân và cán bộ Toà án quân sự cấp mình và Toà án quân sự cấp dưới;
- Báo cáo công tác xét xử của Toà án quân sự quân khu và tương đương với Toà án quân sự trung ương, Tư lệnh quân khu và tương đương.
2- Phó Chánh án giúp Chánh án làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án.
1- Toà án quân sự khu vực có Chánh án, các Phó chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm quân nhân, Thư ký Toà án.
1- Chánh án Toà án quân sự khu vực có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Tổ chức công tác xét xử;
- Báo cáo công tác xét xử của Toà án quân sự khu vực với Toà án quân sự cấp trên trực tiếp.
2- Phó Chánh án giúp Chánh án làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án.
THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM QUÂN NHÂN
Quân nhân tại ngũ, công nhân, nhân viên quốc phòng có kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa thì có thể được cử làm Hội thẩm quân nhân.
Tiêu chuẩn cụ thể của Thẩm phán, Hội thẩm quân nhân của Toà án quân sự mỗi cấp; thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán, cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm quân nhân; tổ chức và hoạt động của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán; quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán, Hội thẩm quân nhân do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.
Nhiệm kỳ của Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán Toà án quân sự các cấp là năm năm.
Chánh án Toà án quân sự trung ương là Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
Thẩm phán Toà án quân sự trung ương là Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Chánh án, các Phó chánh án Toà án quân sự trung ương là thành viên Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Một số Thẩm phán Toà án quân sự trung ương được Chánh án Toà án nhân dân tối cao cử và được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự quân khu và tương đương do Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam miễn nhiệm, bãi nhiệm.
Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự khu vực do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị sư đoàn hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương miễn nhiệm, bãi nhiệm.
Nhiệm kỳ của Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự các cấp là năm năm.
Hội thẩm quân nhân được bồi dưỡng về nghiệp vụ và được hưởng phụ cấp khi làm nhiệm vụ xét xử.
Số lượng Thẩm phán và Hội thẩm quân nhân của các Toà án quân sự quân khu và tương đương, Toà án quân sự khu vực do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi đã thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
VIỆC BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG CỦA TOÀ ÁN QUÂN SỰ
Tổng biên chế của các Toà án quân sự quân khu và tương đương, các Toà án quân sự khu vực do Chính phủ quyết định theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi đã thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chánh án Toà án nhân dân tối cao quy định biên chế cho từng Toà án quân sự quân khu và tương đương, Toà án quân sự khu vực.
Số lượng cán bộ, nhân viên giúp việc ở các Toà án quân sự quân khu và tương đương, các Toà án quân sự khu vực do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định sau khi đã thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
| Lê Đức Anh (Đã ký) |
- 1Sắc lệnh số 33C về việc thiết lập các toà án quân sự do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Luật Tổ chức Toà án nhân dân 1992
- 4Thông tư liên ngành 01/TTLN năm 1994 hướng dẫn thẩm quyền xét xử của các Toà án Quân sựdo Tòa Án Nhân Dân Tối Cao - Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao ban hành
Pháp lệnh Tổ chức Toà án quân sự năm 1993
- Số hiệu: 11-L/CTN
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 19/04/1993
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Lê Đức Anh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 12
- Ngày hiệu lực: 26/04/1993
- Ngày hết hiệu lực: 15/11/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
