Pháp lệnh Thuế Nhà, Đất năm 1991 do Hội đồng Nhà nước ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 7 năm 1991, nhằm quy định các chính sách thuế đối với nhà ở, đất ở và đất xây dựng công trình trên phạm vi cả nước.
Phạm vi áp dụng và đối tượng nộp thuế
Pháp lệnh quy định rõ ràng về đối tượng chịu thuế và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan:
- Đối tượng chịu thuế: Thuế nhà đất được thu đối với nhà, đất ở và đất xây dựng công trình.
- Người nộp thuế: Tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình (gọi chung là chủ nhà đất) đều có nghĩa vụ nộp thuế. Trường hợp có tranh chấp hoặc chưa xác định rõ quyền sở hữu/sử dụng thì tổ chức, cá nhân đang trực tiếp sử dụng nhà đất phải nộp thuế.
- Trường hợp thuê nhà đất: Đối với các tổ chức, cá nhân (kể cả xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) thuê nhà, đất thì chỉ trả tiền thuê; nghĩa vụ nộp thuế nhà đất thuộc về bên cho thuê.
- Cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế: Thực hiện nộp thuế theo quy định của Pháp lệnh này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Các trường hợp không thuộc diện thu thuế
Pháp lệnh quy định cụ thể các đối tượng được miễn trừ hoàn toàn nghĩa vụ thuế nhà đất bao gồm:
- Nhà ở thuộc vùng nông thôn (ngoại trừ nhà ở có hoạt động kinh doanh, dịch vụ ven quốc lộ, tỉnh lộ thuộc vùng đồng bằng và trung du).
- Đất sử dụng làm đường sá, cầu cống, công viên, sân vận động, đê điều, công trình thủy lợi, nghĩa trang.
- Nhà, đất dùng làm trụ sở của cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức xã hội, công trình văn hóa, doanh trại của các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân.
- Nhà, đất chuyên dùng vào mục đích thờ cúng của các tôn giáo.
- Nhà, đất sử dụng vì lợi ích công cộng mà chủ nhà đất không thu tiền thuê.
Căn cứ tính thuế và thuế suất
Thuế nhà đất được xác định dựa trên các yếu tố kỹ thuật và giá trị thực tế:
- Căn cứ tính thuế: Dựa trên diện tích nhà, diện tích đất, giá tính thuế trên mỗi mét vuông đối với từng hạng nhà, hạng đất và thuế suất tương ứng.
- Giá tính thuế: Giá tính thuế nhà được xác định theo giá thị trường của từng hạng nhà. Giá tính thuế đất được xác định dựa trên khả năng sinh lợi và giá trị sử dụng của đất trong từng khu vực cụ thể. Hội đồng Bộ trưởng quy định việc phân hạng nhà, hạng đất và khung giá tiêu chuẩn.
- Thuế suất: Đối với nhà là 0,3% giá tính thuế/năm; đối với đất là 0,5% giá trị tính thuế/năm.
- Thuế đất ở vùng nông thôn: Được tính dựa trên mức thuế nông nghiệp cùng hạng trong vùng với các hệ số khác nhau: vùng đồi trọc, đá sỏi bằng 1 lần; vùng trung du, đồi núi bằng 1,5 lần; vùng đồng bằng bằng 2 lần; riêng vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và ven quốc lộ, tỉnh lộ bằng 3 lần. Đất ở sử dụng vào sản xuất nông nghiệp thì tính bằng mức thuế nông nghiệp cùng hạng.
Thủ tục kê khai và nộp thuế
Quy trình quản lý thuế được thực hiện chặt chẽ thông qua các quy định:
- Địa điểm nộp thuế: Nộp tại cơ quan thuế địa phương nơi có nhà đất chịu thuế.
- Thời hạn nộp thuế: Thuế được tính theo năm và nộp làm 2 kỳ, mỗi kỳ nộp 50%. Kỳ thứ nhất nộp chậm nhất vào ngày 30 tháng 4; kỳ thứ hai nộp chậm nhất vào ngày 31 tháng 10 hàng năm.
- Trách nhiệm của chủ nhà đất: Hàng năm phải kê khai tình hình nhà đất với cơ quan thuế. Khi có thay đổi về quyền sở hữu, quyền sử dụng, cấu trúc hoặc diện tích nhà đất, chủ nhà đất phải khai lại trong thời hạn tối đa 1 tháng kể từ ngày thay đổi. Đồng thời phải cung cấp đầy đủ tài liệu liên quan và nộp thuế đúng hạn.
Nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan thuế
Cơ quan thuế có trách nhiệm hướng dẫn chủ nhà đất kê khai, kiểm tra xác minh tài liệu, lập và duyệt sổ thuế. Cơ quan thuế phải thông báo số thuế phải nộp, cấp biên lai do Bộ Tài chính phát hành khi thu thuế, đôn đốc nộp thuế vào kho bạc, xử phạt hành chính hoặc đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm, và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Chính sách miễn, giảm thuế nhà đất
Nhà nước áp dụng chính sách ưu đãi thuế đối với một số đối tượng đặc thù:
- Miễn thuế: Người thuộc diện được phân phối nhà ở theo chế độ nhưng chưa được phân phối mà đã tự có nhà riêng thì được miễn thuế đối với phần diện tích tương đương tiêu chuẩn quy định.
- Xét miễn, giảm thuế: Áp dụng cho nhà xây dựng bằng vật liệu dễ hư hỏng; nhà hư hỏng phải sửa chữa với chi phí vượt quá 50% giá tính thuế nhà; nhà mới xây dựng trong vòng 3 năm đầu; nhà xưởng của xí nghiệp quốc doanh; nhà đất do cơ quan Nhà nước quản lý cho cán bộ, công nhân viên chức thuê; và nhà đất của người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, dịch họa, tai nạn bất ngờ.
Xử lý vi phạm và chế tài áp dụng
Các hành vi vi phạm Pháp lệnh thuế nhà đất sẽ bị xử lý nghiêm khắc tùy theo mức độ:
- Không làm đúng thủ tục kê khai: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 1.000.000 đồng.
- Khai man, trốn thuế: Truy thu đủ số thuế và phạt tiền từ 1 đến 3 lần số thuế gian lậu.
- Nộp chậm tiền thuế hoặc tiền phạt: Phạt 0,5% (năm phần nghìn) số tiền nộp chậm cho mỗi ngày chậm nộp.
- Cố tình dây dưa không nộp: Trích tiền từ tài khoản ngân hàng để nộp thuế/phạt hoặc kê biên tài sản theo quy định pháp luật.
- Truy cứu trách nhiệm hình sự: Áp dụng đối với cá nhân trốn thuế số lượng lớn, đã bị xử lý hành chính mà vẫn vi phạm, hoặc phạm tội trong các trường hợp nghiêm trọng khác theo quy định của Bộ luật Hình sự.
- Xử lý cán bộ thuế vi phạm: Cán bộ lợi dụng chức vụ để chiếm dụng, tham ô tiền thuế phải bồi thường và bị xử lý kỷ luật, phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Cán bộ bao che, cố ý làm trái hoặc thiếu trách nhiệm gây thiệt hại cho người nộp thuế cũng bị xử lý nghiêm và phải bồi thường thiệt hại.
Giải quyết khiếu nại và truy thu thuế
Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế thông qua cơ chế khiếu nại:
- Thủ tục khiếu nại: Đơn khiếu nại phải gửi đến cơ quan thuế phát hành lệnh thu hoặc quyết định xử lý trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định. Trong thời gian chờ giải quyết, người khiếu nại vẫn phải nộp đủ thuế và tiền phạt đúng hạn.
- Thời hạn giải quyết: Cơ quan nhận đơn phải giải quyết trong vòng 15 ngày (tối đa 30 ngày đối với vụ việc phức tạp). Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết, người khiếu nại có quyền khiếu nại lên cơ quan thuế cấp trên trực tiếp.
- Thoái trả và truy thu: Cơ quan thuế phải thoái trả tiền thuế, tiền phạt thu sai và bồi thường (nếu có) trong vòng 15 ngày kể từ ngày có quyết định xử lý của cấp trên. Trong thời hạn 3 năm kể từ ngày có hành vi khai man, trốn thuế hoặc nhầm lẫn, cơ quan thuế có quyền ra lệnh truy thu hoặc truy hoàn thuế.
Điều khoản thi hành và hiệu lực pháp luật
Hội đồng Bộ trưởng thống nhất quản lý công tác thuế nhà đất trong cả nước. Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, kiểm tra và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền. Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo, kiểm tra việc thi hành tại địa phương. Khi giá cả thị trường biến động từ 20% trở lên, Hội đồng Bộ trưởng sẽ điều chỉnh các định mức bằng tiền cho phù hợp với thời giá.
Pháp lệnh Thuế Nhà, Đất năm 1991 chính thức bãi bỏ thuế thổ trạch và các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này. Văn bản có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 7 năm 1991.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 54-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 01 tháng 7 năm 1991 |
THUẾ NHÀ, ĐẤT CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 54-LCT/HĐNN8 NGÀY 01/07/1991
Để tăng cường quản lý Nhà nước đối với việc xây dựng và sử dụng nhà ở, khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm phù hợp với Luật đất đai, động viên sự đóng góp của chủ sở hữu nhà và người sử dụng nhà đất vào ngân sách Nhà nước;
Căn cứ vào Điều 80 và Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 6 ngày 28 tháng 12 năm 1989 về việc uỷ quyền cho Hội đồng Nhà nước quy định một số thuế mới;
Pháp lệnh này quy định thuế nhà đất.
Thuế nhà đất là thuế thu đối với nhà và đối với đất ở, đất xây dựng công trình.
Trong trường hợp còn có sự tranh chấp hoặc chưa xác định được quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng nhà đất, thì tổ chức, cá nhân đang sử dụng nhà phải nộp thuế nhà đất.
Tổ chức, cá nhân, kể cả xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê nhà, đất ở, đất xây dựng công trình thì chỉ trả tiền thuê nhà, đất, còn thuế nhà đất thì do tổ chức, cá nhân cho thuê nhà, đất nộp theo quy định của Pháp lệnh này;
1- Nhà ở thuộc vùng nông thôn, trừ nhà ở nơi có hoạt động kinh doanh, dịch vụ ven đường quốc lộ, tỉnh lộ thuộc vùng đồng bằng, trung du;
2- Đất làm đường sá, cầu cống, công viên, sân vận động, đê điều, công trình thuỷ lợi, nghĩa trang;
3- Nhà, đất dùng làm trụ sở cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức xã hội, công trình văn hoá, doanh trại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân;
4- Nhà, đất chuyên dùng vào việc thờ cúng của tôn giáo;
5- Nhà, đất sử dụng vì lợi ích công cộng mà chủ nhà đất không thu tiền thuê.
Chủ nhà đất có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ theo quy định của Pháp lệnh thuế nhà đất.
CĂN CỨ TÍNH THUẾ VÀ BIỂU THUẾ NHÀ ĐẤT
Đối với đất ở thuộc vùng nông thôn thì căn cứ tính thuế được quy định tại
Giá tính thuế nhà đất được quy định như sau:
1- Giá tính thuế nhà được quy định căn cứ vào giá thị trường đối với từng hạng nhà;
2- Giá tính thuế đất được quy định căn cứ vào khả năng sinh lợi và giá trị sử dụng của đất trong từng khu vực.
Căn cứ vào quy định tại điểm 1 và điểm 2, Điều này Hội đồng bộ trưởng quy định việc phân hạng nhà, hạng đất, việc định khung giá tiêu chuẩn và định giá tính thuế nhà đất.
Thuế suất thuế nhà đất được quy định như sau:
1- Đối với nhà: 0,3% giá tính thuế/năm;
2- Đối với đất: 0,5% giá trị thuế/năm;
Đối với đất ở thuộc vùng nông thôn, mức thuế đất ở được quy định như sau:
1- Ở vùng đồi trọc, đá sỏi, mức thuế đất ở bằng mức thuế nông nghiệp cùng hạng trong vùng;
2- Ở vùng trung du, đồi núi, mức thuế đất ở bằng 1,5 lần mức thuế nông nghiệp cùng hạng đất trong vùng;
3- Ở vùng đồng bằng, mức thuế đất ở bằng 2 lần mức thuế nông nghiệp cùng hạng đất trong vùng; riêng ở vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và ven các đường quốc lộ, tỉnh lộ, mức thuế đất ở bằng 3 lần mức thuế nông nghiệp cùng hạng đất trong vùng.
4- Đất ở mà sử dụng vào sản xuất nông nghiệp thì được tính thuế đất bằng mức thuế nông nghiệp cùng hạng đất trong vùng.
Thuế nhà đất được nộp tại cơ quan thuế địa phương, nơi có nhà đất thuộc diện chịu thuế.
2- Cung cấp tài liệu cần thiết có liên quan đến việc tính thuế nhà đất theo yêu cầu của cơ quan thuế;
3- Nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn.
Cơ quan thuế có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1- Hướng dẫn, giúp đỡ chủ nhà đất thực hiện nghiêm chỉnh việc kê khai, nộp thuế nhà đất;
2- Kiểm tra, xác minh tài liệu kê khai tính thuế, lập sổ thuế, duyệt sổ thuế nhà đất;
3- Thông báo cho người nộp thuế số thuế phải nộp và thời hạn nộp thuế. Khi thu thuế, cơ quan thu thuế phải cấp biên lai nộp thuế do Bộ tài chính phát hành;
4- Theo dõi, đôn đốc việc thu, nộp thuế vào kho bạc Nhà nước;
5- Lập biên bản và xử phạt hành chính theo thẩm quyền hoặc đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự các vi phạm Pháp lệnh thuế nhà đất;
6- Xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế nhà đất.
Những trường hợp sau đây được xét miễn, giảm thuế nhà đất:
1- Nhà xây dựng bằng vật liệu dễ hư hỏng;
2- Nhà hư hỏng phải sửa chữa mà chi phí vượt quá một nửa giá tính thuế nhà;
3- Nhà mới xây dựng trong vòng 3 năm đầu;
4- Nhà xưởng của các xí nghiệp quốc doanh;
5- Nhà đất do cơ quan Nhà nước quản lý cho cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước thuê;
6- Nhà đất của các đối tượng nộp thuế có khó khăn do thiên tai, dịch hoạ, tai nạn bất ngờ.
Thủ tục, thẩm quyền quyết định việc xét giảm thuế, miễn thuế nhà đất do Hội đồng bộ trưởng quy định.
1- Việc xử lý các vi phạm Pháp lệnh thuế nhà đất được quy định như sau:
a) Tổ chức, cá nhân không làm đúng các thủ tục kê khai, thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị cảnh cáo hoặc phạt tiền đến một triệu đồng;
b) Tổ chức, cá nhân có hành vi khai man, trốn thuế, thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế theo quy định của Pháp lệnh này, còn phải phạt tiền từ một đến ba lần số thuế gian lậu;
c) Tổ chức, cá nhân nộp chậm tiền thuế hoặc tiền phạt ghi trong lệnh thu thuế hoặc quyết định xử phạt, thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế hoặc tiền phạt theo quy định của Pháp lệnh này, mỗi ngày nộp chậm còn bị phạt 0,5% (năm phần nghìn) số tiền nộp chậm;
d) Tổ chức, cá nhân dây dưa nộp thuế, nộp phạt, thì bị xử lý như sau:
- Trích tiền của tổ chức, cá nhân có tại ngân hàng để nộp thuế, nộp phạt. Ngân hàng có trách nhiệm thực hiện chế độ ưu tiên trích nộp tiền thuế, tiền phạt vào kho bạc Nhà nước theo thông báo của cơ quan thuế;
- Kê biên tài sản theo quy định của pháp luật để bảo đảm tiền thuế, tiền phạt còn thiếu.
2- Cá nhân trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử lý theo các điểm a, b, c, d khoản 1, Điều này mà vẫn còn vi phạm hoặc trốn thuế với số lượng rất lớn hoặc phạm tội trong các trường hợp nghiêm trọng khác, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật Hình sự.
Thẩm quyền xử lý vi phạm quy định tại
1- Đối với vi phạm quy định tại điểm a:
a) Trưởng trạm thuế được phạt đến một trăm ngàn đồng;
b) Trưởng chi cục thuế được phạt đến bốn trăm ngàn đồng;
c) Trưởng cục thuế được phạt đến một triệu đồng.
2- Đối với vi phạm quy định tại điểm b:
a) Trưởng chi cục thuế được phạt 1 lần số thuế gian lậu;
b) Trưởng cục thuế được phạt đến 3 lần thuế gian lậu.
3- Thủ trưởng cơ quan thuế trực tiếp quản lý việc thu thuế nhà đất được quyền phạt do nộp chậm và áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định tại các điểm c và d khoản 1, Điều 18 của Pháp lệnh này.
Cán bộ thuế, cá nhân khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn bao che cho người vi phạm Pháp lệnh thuế nhà đất; cố ý làm trái quy định của Pháp lệnh này, thiếu trách nhiệm trong việc thi hành Pháp lệnh thuế nhà đất, thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Cán bộ thuế, do thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố tình xử lý sai, gây thiệt hại cho người nộp thuế hoặc người bị xử lý thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Hội đồng bộ trưởng quy định chế độ khen thưởng đối với:
1- Cơ quan thuế, cán bộ thuế hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao;
2- Người có công phát hiện các vụ vi phạm Pháp lệnh thuế nhà đất.
Đơn khiếu nại phải gửi đến cơ quan thuế phát hành lệnh thu hoặc quyết định xử lý trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được lệnh thu hoặc quyết định xử lý.
Trong khi chờ giải quyết, người khiếu nại phải nộp đủ và đúng thời hạn số tiền thuế, tiền phạt đã được thông báo.
Cơ quan nhận đơn khiều nại phải xem xét, giải quyết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đơn. Đối với vụ phức tạp thì có thể kéo dài, nhưng không được quá ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đơn.
Hội đồng bộ trưởng lãnh đạo việc tổ chức thực hiện công tác thuế nhà đất trong cả nước.
Bãi bỏ thuế thổ trạch và những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này.
Pháp lệnh này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 1991.
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |
- 1Nghị định 661-TTg năm 1956 về bản điều lệ tạm thời về thuế thổ trạch do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành.
- 2Pháp lệnh Thuế Nhà, Đất năm 1992 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 3Quyết định 105/2000/QĐ-TTg về việc miễn nộp nợ thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế nhà, đất do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Công văn 1121/TCT/NV7 của Tổng cục Thuế về việc tính thuế nhà đất
- 5Công văn số 1504TCT/TS về việc thu thuế nhà đất do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Hiến pháp năm 1980
- 2Nghị quyết về việc uỷ quyền cho Hội đồng Nhà nước quy định một số thuế mới do Quốc hội ban hành
- 3Nghị định 270-HĐBT năm 1991 Hướng dẫn Pháp lệnh Thuế Nhà, Đất do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4Thông tư 53-TC/TCT năm 1991 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước và Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng về Thuế Nhà, Đất do Bộ Tài chính ban hành
- 5Thông tư 58-TC/TCT năm 1991 bổ sung một số vấn đề về Thuế Nhà, Đất do Bộ Tài chính ban hành
- 6Quyết định 105/2000/QĐ-TTg về việc miễn nộp nợ thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế nhà, đất do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 7Công văn 1121/TCT/NV7 của Tổng cục Thuế về việc tính thuế nhà đất
- 8Công văn số 1504TCT/TS về việc thu thuế nhà đất do Tổng cục Thuế ban hành
Pháp lệnh Thuế Nhà, Đất năm 1991 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- Số hiệu: 54-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 29/06/1991
- Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 15/07/1991
- Ngày hết hiệu lực: 01/10/1992
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
