Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011, là văn bản pháp lý quan trọng nhằm hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn, quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm, điều động và biệt phái Kiểm sát viên trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp. Văn bản này hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chức danh tư pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh này tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân hiện hành, liên quan trực tiếp đến cơ cấu ngạch Kiểm sát viên, điều kiện tiêu chuẩn bổ nhiệm đối với từng ngạch, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên, cũng như thẩm quyền điều động, biệt phái cán bộ trong ngành Kiểm sát. Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp, các thành viên Hội đồng tuyển chọn, cùng toàn thể cán bộ, công chức, sĩ quan quân đội đang công tác hoặc được điều động đến công tác tại ngành Kiểm sát nhân dân.
Nội dung cốt lõi của Pháp lệnh sửa đổi
- Phân định các ngạch Kiểm sát viên và thẩm quyền quyết định số lượng
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định rõ ràng thành các ngạch bao gồm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân.
- Đối với hệ thống Viện kiểm sát quân sự, các ngạch Kiểm sát viên bao gồm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương (đồng thời là Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao), Kiểm sát viên trung cấp và Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự.
- Mỗi cấp Viện kiểm sát sẽ được bố trí các ngạch Kiểm sát viên phù hợp. Số lượng Kiểm sát viên cụ thể cho từng ngạch (tối cao, trung cấp, sơ cấp) do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định dựa trên đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Tiêu chuẩn tuyển chọn và bổ nhiệm các ngạch Kiểm sát viên
Pháp lệnh quy định chi tiết và nâng cao các tiêu chuẩn về thời gian công tác pháp luật cũng như năng lực chuyên môn đối với từng ngạch Kiểm sát viên:
- Kiểm sát viên sơ cấp: Người có đủ tiêu chuẩn chung theo quy định, có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đối với sĩ quan quân đội tại ngũ đáp ứng đủ các điều kiện này thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự.
- Kiểm sát viên trung cấp:
- Trường hợp thông thường: Phải là Kiểm sát viên sơ cấp ít nhất là năm năm, có năng lực thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ cho Kiểm sát viên sơ cấp.
- Trường hợp do nhu cầu cán bộ: Người có đủ tiêu chuẩn chung, có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực chuyên môn và khả năng hướng dẫn nghiệp vụ tương đương cũng có thể được xem xét bổ nhiệm.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao:
- Trường hợp thông thường: Phải là Kiểm sát viên trung cấp ít nhất là năm năm, có năng lực thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp ở mức độ cao và có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ cho cả Kiểm sát viên sơ cấp và trung cấp.
- Trường hợp do nhu cầu cán bộ: Người có đủ tiêu chuẩn chung, có thời gian làm công tác pháp luật từ mười lăm năm trở lên, đáp ứng đầy đủ năng lực chuyên môn và khả năng hướng dẫn nghiệp vụ cho các ngạch dưới cũng có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm.
- Cơ chế bổ nhiệm đặc biệt trong trường hợp cần thiết
Để đảm bảo tính linh hoạt trong công tác cán bộ, Pháp lệnh bổ sung quy định đối với các trường hợp cần thiết. Người đang công tác trong ngành Kiểm sát hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều động đến công tác tại ngành Kiểm sát, dù chưa đủ thời gian làm Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp hoặc chưa đủ thời gian làm công tác pháp luật theo quy định chung, nhưng nếu đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn năng lực khác thì vẫn có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm vào các ngạch Kiểm sát viên tương ứng (sơ cấp, trung cấp hoặc tối cao). Đối với sĩ quan quân đội tại ngũ, cơ chế này cũng được áp dụng tương tự để bổ nhiệm các ngạch Kiểm sát viên trong hệ thống Viện kiểm sát quân sự.
- Hệ thống Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên và nguyên tắc hoạt động
Hệ thống Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên được tổ chức chặt chẽ ở các cấp khác nhau, bao gồm:
- Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương.
- Các Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân.
- Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự.
- Nguyên tắc hoạt động: Tất cả các Hội đồng tuyển chọn đều làm việc theo chế độ tập thể. Quyết định của Hội đồng chỉ có giá trị pháp lý khi được quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng biểu quyết tán thành.
- Thành phần và nhiệm vụ của Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên cấp tỉnh và quân sự
Pháp lệnh quy định cụ thể về cơ cấu thành phần và thẩm quyền của các Hội đồng tuyển chọn cấp dưới:
- Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân (cấp tỉnh):
- Thành phần: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch Hội đồng; các ủy viên gồm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, đại diện Lãnh đạo Sở Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban chấp hành Hội luật gia cấp tỉnh. Danh sách ủy viên do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
- Nhiệm vụ, quyền hạn: Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn để đề nghị bổ nhiệm; xem xét các trường hợp miễn nhiệm hoặc cách chức Kiểm sát viên trung cấp, sơ cấp theo đề nghị của Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để trình Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định.
- Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự:
- Thành phần: Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương làm Chủ tịch Hội đồng; các ủy viên gồm đại diện Lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban chấp hành trung ương Hội luật gia Việt Nam. Danh sách ủy viên do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.
- Nhiệm vụ, quyền hạn: Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn để đề nghị bổ nhiệm; xem xét các trường hợp miễn nhiệm hoặc cách chức Kiểm sát viên trung cấp, sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự theo đề nghị của Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương để trình Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định.
- Thẩm quyền điều động và biệt phái Kiểm sát viên
Công tác điều động, biệt phái Kiểm sát viên được phân cấp rõ ràng nhằm tối ưu hóa nguồn nhân lực của ngành:
- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Có quyền quyết định điều động, biệt phái Kiểm sát viên giữa các địa phương không cùng tỉnh; giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao với các địa phương và ngược lại. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng tối cao cũng có quyền điều động, biệt phái Kiểm sát viên giữa các Viện kiểm sát trong cùng một tỉnh.
- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh: Có thẩm quyền quyết định điều động, biệt phái Kiểm sát viên giữa các Viện kiểm sát nhân dân trong phạm vi cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Có thẩm quyền quyết định điều động Kiểm sát viên giữa các Viện kiểm sát quân sự cùng cấp sau khi đã thống nhất ý kiến với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đồng thời có quyền quyết định biệt phái Kiểm sát viên giữa các Viện kiểm sát quân sự với nhau để thực hiện nhiệm vụ có thời hạn.
Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện
Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011. Chính phủ và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, chịu trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết để bảo đảm việc thi hành thống nhất, hiệu quả các quy định mới này trên phạm vi cả nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| ỦY BAN THƯỜNG VỤ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Pháp lệnh số: 15/2011/UBTVQH12 | Hà Nội, ngày 19 tháng 02 năm 2011 |
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA PHÁP LỆNH KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Căn cứ Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân số 34/2002/QH10;
Căn cứ Nghị quyết số 27/2008/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011);
Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân số 03/2002/PL-UBTVQH11.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân:
1. Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 3.
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có:
a) Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân;
c) Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự bao gồm Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương đồng thời là Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự.
2. Mỗi cấp Viện kiểm sát được bố trí các ngạch Kiểm sát viên khác nhau. Số lượng Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.”
2. Điều 18 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 18.
Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh này, có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự.”
3. Điều 19 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 19.
1. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh này và đã là Kiểm sát viên sơ cấp ít nhất là năm năm, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Kiểm sát viên sơ cấp thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện Kiểm sát nhân dân; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát quân sự.
2. Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Kiểm sát nhân dân, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh này và đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Kiểm sát viên sơ cấp, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện Kiểm sát nhân dân; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát quân sự.”
4. Điều 20 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 20.
1. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh này và đã là Kiểm sát viên trung cấp ít nhất là năm năm, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương.
2. Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Kiểm sát nhân dân, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh này và đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười lăm năm trở lên, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương.”
5. Điều 21 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 21.
Trong trường hợp cần thiết, người đang công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân hoặc người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều động đến công tác tại ngành Kiểm sát nhân dân, tuy chưa đủ thời gian làm Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp hoặc chưa đủ thời gian làm công tác pháp luật, nhưng có đủ các tiêu chuẩn khác quy định tại các điều 18, 19 hoặc Điều 20 của Pháp lệnh này, thì cũng có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp hoặc Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát nhân dân hoặc Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp hoặc Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát quân sự hoặc Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương.”
6. Điều 22 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 22.
1. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân gồm có:
a) Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương;
b) Các Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân;
c) Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự.
2. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên làm việc theo chế độ tập thể. Quyết định của Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.”
7. Điều 24 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 24.
1. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân gồm có Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Hội đồng nhân dân cấp tỉnh) làm Chủ tịch, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, đại diện Lãnh đạo Sở Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành Hội luật gia cấp tỉnh là ủy viên.
Danh sách ủy viên Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
2. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân theo đề nghị của Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để Chủ tịch Hội đồng đề nghị Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện Kiểm sát nhân dân có thể được miễn nhiệm chức danh Kiểm sát viên quy định tại khoản 2 Điều 27 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để Chủ tịch Hội đồng đề nghị Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân có thể bị cách chức chức danh Kiểm sát viên quy định tại khoản 2 Điều 28 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để Chủ tịch Hội đồng đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cách chức.”
8. Điều 25 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 25.
1. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự gồm có Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương làm Chủ tịch, đại diện Lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Hội luật gia Việt Nam là ủy viên.
Danh sách ủy viên Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.
2. Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự theo đề nghị của Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương để Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự có thể được miễn nhiệm chức danh Kiểm sát viên quy định tại khoản 2 Điều 27 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương để Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự có thể bị cách chức chức danh Kiểm sát viên quy định tại khoản 2 Điều 28 của Pháp luật này theo đề nghị của Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương để Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cách chức.”
9. Điều 30 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 30.
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền quyết định:
a) Điều động Kiểm sát viên từ Viện kiểm sát nhân dân địa phương này đến Viện kiểm sát nhân dân địa phương khác không cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; điều động Kiểm sát viên từ Viện kiểm sát nhân dân tối cao đến Viện kiểm sát nhân dân địa phương và ngược lại;
b) Biệt phái Kiểm sát viên từ Viện kiểm sát nhân dân địa phương này đến làm nhiệm vụ có thời hạn tại Viện kiểm sát nhân dân địa phương khác không cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; biệt phái Kiểm sát viên từ Viện kiểm sát nhân dân tối cao đến làm nhiệm vụ có thời hạn tại Viện kiểm sát nhân dân địa phương và ngược lại;
c) Trong trường hợp cần thiết, điều động, biệt phái Kiểm sát viên từ Viện Kiểm sát nhân dân này đến Viện kiểm sát nhân dân khác trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
2. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền quyết định:
a) Điều động Kiểm sát viên từ Viện kiểm sát nhân dân này đến Viện kiểm sát nhân dân khác trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
b) Biệt phái Kiểm sát viên từ Viện kiểm sát nhân dân này đến làm nhiệm vụ có thời hạn tại Viện kiểm sát nhân dân khác trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
3. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền quyết định:
a) Điều động Kiểm sát viên từ Viện kiểm sát quân sự này đến Viện kiểm sát quân sự khác cùng cấp sau khi thống nhất với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Biệt phái Kiểm sát viên từ Viện kiểm sát quân sự này đến làm nhiệm vụ có thời hạn tại Viện kiểm sát quân sự khác.”
1. Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
2. Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
|
| TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI |
- 1Hiến pháp năm 1992
- 2Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân 2002
- 3Nghị quyết số 27/2008/QH12 về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007 – 2011) do Quốc hội ban hành
- 4Nghị quyết 1023/2011/UBTVQH12 về thi hành Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành
Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- Số hiệu: 15/2011/UBTVQH12
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 19/02/2011
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Phú Trọng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 171 đến số 172
- Ngày hiệu lực: 01/07/2011
- Ngày hết hiệu lực: 01/06/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
