Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 1993 được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua và được Chủ tịch nước Lê Đức Anh ký sắc lệnh công bố vào ngày 12 tháng 5 năm 1993. Văn bản này quy định toàn diện về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn, quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức cũng như các chế độ chính sách đối với Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo đảm tính tôn nghiêm của pháp luật.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Pháp lệnh
Pháp lệnh áp dụng đối với công dân Việt Nam có đủ điều kiện, tiêu chuẩn được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên tại các cấp Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự. Đồng thời, văn bản cũng điều chỉnh trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân trong việc tôn trọng, giám sát và tạo điều kiện cho Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ.
1. Khái niệm và tiêu chuẩn chung của Kiểm sát viên
- Khái niệm: Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố.
- Tiêu chuẩn chung: Phải là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc; có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực; có kiến thức pháp lý và nghiệp vụ kiểm sát; nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; và có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
2. Nguyên tắc hoạt động và trách nhiệm của Kiểm sát viên
- Trách nhiệm trước pháp luật: Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hành vi, quyết định của mình khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Nếu vi phạm pháp luật, tùy theo tính chất và mức độ sai phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Nguyên tắc chỉ đạo: Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ do Viện trưởng phân công và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng. Khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm sát viên chỉ tuân theo pháp luật, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp mình và sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Quyền từ chối nhiệm vụ: Kiểm sát viên có quyền từ chối thực hiện nhiệm vụ được giao nếu có căn cứ cho rằng việc đó là trái pháp luật. Trong trường hợp Viện trưởng vẫn quyết định yêu cầu thực hiện, Kiểm sát viên phải chấp hành nhưng Viện trưởng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về quyết định đó.
- Yêu cầu về tính vô tư: Kiểm sát viên phải từ chối nhiệm vụ hoặc bị thay đổi nếu có căn cứ cho thấy họ không thể bảo đảm tính vô tư khi thực hiện nhiệm vụ đó.
- Mối quan hệ với nhân dân và các tổ chức: Kiểm sát viên phải tôn trọng nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Kiểm sát viên; nghiêm cấm mọi hành vi cản trở Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ.
- Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân: Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định, hành vi không có căn cứ hoặc trái pháp luật của Kiểm sát viên. Nghiêm cấm hành vi trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền này để vu khống Kiểm sát viên.
3. Tiêu chuẩn cụ thể theo từng ngạch Kiểm sát viên
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự trung ương: Phải có trình độ cao đẳng kiểm sát hoặc đại học luật; có thời gian làm công tác pháp luật từ tám năm trở lên; có năng lực thực hiện nhiệm vụ kiểm sát và thực hành quyền công tố thuộc thẩm quyền cấp tối cao. Đối với ngạch quân sự, người được bổ nhiệm phải là sĩ quan quân đội tại ngũ.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát quân sự quân khu (và tương đương): Phải có trình độ cao đẳng kiểm sát hoặc đại học luật; có thời gian làm công tác pháp luật từ sáu năm trở lên; có năng lực thực hiện nhiệm vụ thuộc thẩm quyền cấp tỉnh hoặc cấp quân khu. Đối với ngạch quân sự, người được bổ nhiệm phải là sĩ quan quân đội tại ngũ.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và Viện kiểm sát quân sự khu vực: Phải có trình độ cao đẳng kiểm sát hoặc đại học luật; có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên; có năng lực thực hiện nhiệm vụ thuộc thẩm quyền cấp huyện hoặc cấp khu vực. Đối với ngạch quân sự, người được bổ nhiệm phải là sĩ quan quân đội tại ngũ.
4. Thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức Kiểm sát viên
- Cấp tối cao và trung ương: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Cấp địa phương: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh.
- Cấp quân sự quân khu và khu vực: Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự quân khu (và tương đương), Viện kiểm sát quân sự tỉnh và khu vực do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.
5. Vai trò tuyển chọn của Ủy ban kiểm sát các cấp
- Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Kiểm sát viên cấp tối cao và cấp quân sự trung ương để Viện trưởng trình Chủ tịch nước bổ nhiệm; đồng thời xem xét các trường hợp vi phạm kỷ luật để đề nghị cách chức.
- Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự trung ương: Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Kiểm sát viên cấp quân sự trung ương để trình Ủy ban kiểm sát tối cao; xem xét các trường hợp vi phạm kỷ luật để trình cấp có thẩm quyền xử lý.
- Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh: Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Kiểm sát viên cấp tỉnh và cấp huyện để Viện trưởng cấp tỉnh đề nghị Viện trưởng tối cao bổ nhiệm; xem xét kỷ luật để đề nghị cách chức Kiểm sát viên thuộc thẩm quyền quản lý.
- Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự quân khu (và tương đương): Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Kiểm sát viên cấp quân khu và khu vực để trình Ủy ban kiểm sát quân sự trung ương; xem xét kỷ luật để đề nghị cách chức.
6. Chế độ chính sách, quản lý và các hành vi bị nghiêm cấm
- Hành vi bị nghiêm cấm: Kiểm sát viên tuyệt đối không được tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm tính khách quan, liêm chính.
- Quyền lợi và chế độ: Kiểm sát viên được hưởng lương, phụ cấp và các quyền lợi khác theo quy định của Nhà nước; được cấp phát trang phục và giấy chứng minh Kiểm sát viên để thực hiện nhiệm vụ.
- Công tác quản lý: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm quản lý thống nhất đội ngũ Kiểm sát viên, tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và bảo đảm thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách đối với Kiểm sát viên toàn ngành.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành (ngày 12 tháng 5 năm 1993) và thay thế toàn bộ các quy chế trước đây về ngạch Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ. Chính phủ và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành chi tiết Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 15-L/CTN | Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 1993 |
SỐ 15-L/CTN NGÀY 12/05/1993 CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Điều 78 của Luật tổ chức Quốc hội,
NAY CÔNG BỐ:
Pháp lệnh về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá IX) thông qua ngày 12 tháng 5 năm 1993.
VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Căn cứ vào Điều 91 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân;
Pháp lệnh này quy định về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
Cơ quan, người nhận được khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm giải quyết và trả lời theo quy định của pháp luật.
Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo Kiểm sát viên.
Kiểm sát viên phải tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Kiểm sát viên dựa vào cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các tổ chức, cá nhân này có trách nhiệm tạo điều kiện để Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ.
Nghiêm cấm mọi hành vi gây cản trở Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN. CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI KIỂM SÁT VIÊN
Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ do Viện trưởng phân công và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng.
Khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm sát viên chỉ tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp mình, sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Kiểm sát viên phải từ chối nhiệm vụ hoặc bị thay đổi nếu có căn cứ cho thấy có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ đó.
Kiểm sát viên hưởng lương, phụ cấp và các quyền lợi khác theo quy định của Nhà nước.
Kiểm sát viên được cấp trang phục, giấy chứng minh Kiểm sát viên để làm nhiệm vụ.
TIÊU CHUẨN KIỂM SÁT VIÊN.THỦ TỤC TUYỂN CHỌN, BỔ NHIỆM, MIỄN NHIỆM,CÁCH CHỨC KIỂM SÁT VIÊN
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự tỉnh và khu vực do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự trung ương tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương để Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương trình Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao; xem xét những trường hợp Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương vi phạm kỷ luật không còn đủ tiêu chuẩn làm Kiểm sát viên để Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương trình Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương xem xét những trường hợp Kiểm sát viên cấp mình và cấp dưới vi phạm kỷ luật không còn đủ tiêu chuẩn làm Kiểm sát viên để Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương trình Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự trung ương. Căn cứ vào quyết định của Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cách chức.
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 1993
|
| Lê Đức Anh (Đã ký) |
- 1Hiến pháp năm 1992
- 2Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992
- 3Nghị quyết 219/2003/NQ-UBTVQH11 về trang phục đối với cán bộ, công chức ngành kiểm sát và giấy chứng minh kiểm sát viên do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 4Hướng dẫn 04/VKSTC-V12 về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại, lao động, vụ án hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật năm 2007 do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 1993
- Số hiệu: 15-L/CTN
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 12/05/1993
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Lê Đức Anh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 14
- Ngày hiệu lực: 26/05/1993
- Ngày hết hiệu lực: 11/10/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
