Nghị định 203/2004/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định về mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức và doanh nghiệp trên phạm vi cả nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc cải cách tiền lương, điều chỉnh thu nhập của người lao động và làm căn cứ tính toán các chế độ chính sách liên quan trong giai đoạn năm 2004.
Phạm vi và đối tượng áp dụng mức lương tối thiểu chung
Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này được áp dụng rộng rãi đối với các đối tượng sau:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội.
- Các công ty hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, bao gồm công ty nhà nước và các công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập.
- Các công ty, doanh nghiệp hoạt động và đăng ký theo Luật Doanh nghiệp.
- Các hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác có sử dụng lao động thuê mướn.
Quy định về mức lương tối thiểu chung và nguyên tắc áp dụng
- Mức lương tối thiểu chung: Được ấn định là 290.000 đồng/tháng. Mức lương này dùng để chi trả cho người lao động làm những công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường.
- Cơ chế điều chỉnh: Mức lương tối thiểu chung không cố định mà sẽ được điều chỉnh linh hoạt theo từng thời kỳ, phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt (lạm phát) và quan hệ cung cầu lao động trên thị trường.
- Mục đích sử dụng: Làm căn cứ để tính toán các mức lương cụ thể trong hệ thống thang lương, bảng lương; tính mức phụ cấp lương trong khu vực nhà nước; làm cơ sở thỏa thuận mức lương ghi trong hợp đồng lao động đối với các doanh nghiệp tự xây dựng thang, bảng lương; và thực hiện các chế độ bảo trợ, phúc lợi khác cho người lao động.
- Tính trợ cấp thôi việc và tinh giản biên chế: Mức lương 290.000 đồng/tháng được dùng để tính khoản trợ cấp thôi việc cho số năm làm việc từ năm 2003 trở đi đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước (theo Nghị định 41/2002/NĐ-CP và Nghị định 155/2004/NĐ-CP) và người thôi việc do tinh giản biên chế (theo Nghị quyết 16/2000/NQ-CP và Nghị quyết 09/2003/NQ-CP). Đối với thời gian làm việc từ năm 2002 trở về trước, việc tính toán vẫn áp dụng theo các hướng dẫn trước ngày 01 tháng 01 năm 2003.
Hệ số điều chỉnh tăng thêm so với mức lương tối thiểu chung
- Đối với khu vực công (cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang, đoàn thể): Việc áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm so với mức lương tối thiểu chung sẽ do Chính phủ quy định cụ thể, căn cứ vào khả năng cân đối của ngân sách nhà nước và nguồn kinh phí chi trả lương của từng đơn vị.
- Đối với doanh nghiệp nhà nước: Hệ số điều chỉnh tăng thêm dùng để tính đơn giá tiền lương sẽ phụ thuộc vào năng suất lao động và hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế của doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ.
- Nguyên tắc loại trừ: Các hệ số điều chỉnh tăng thêm nêu trên chỉ dùng để chi trả thu nhập thực tế, tuyệt đối không được dùng làm căn cứ để tính đóng và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng như các chế độ chính sách khác theo quy định pháp luật.
- Đối với khu vực ngoài nhà nước: Các công ty, doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình và cá nhân sử dụng lao động được quyền tự chủ quyết định mức lương tối thiểu cao hơn mức lương tối thiểu chung (290.000 đồng/tháng) để thu hút lao động.
Phân công trách nhiệm hướng dẫn và thực hiện
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Có trách nhiệm chủ trì, lấy ý kiến của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đại diện người sử dụng lao động và các Bộ, ngành liên quan để trình Chính phủ công bố mức lương tối thiểu chung cho từng thời kỳ; đồng thời trình Chính phủ quy định hệ số điều chỉnh tăng thêm áp dụng trong các công ty nhà nước.
- Bộ Nội vụ: Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan để xây dựng và trình Chính phủ ban hành quy định về hệ số điều chỉnh tăng thêm áp dụng cho khu vực hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang và các tổ chức chính trị - xã hội.
- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo và giám sát việc thi hành nghiêm túc Nghị định này trong phạm vi quản lý của mình.
Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp
Nghị định 203/2004/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Tuy nhiên, các chế độ và mức lương quy định tại Nghị định này được thống nhất thực hiện kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2004.
Nghị định này bãi bỏ các quy định trước đây tại khoản 1 Điều 1, khoản 2 Điều 4 và khoản 2 Điều 6 của Nghị định số 03/2003/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2003 của Chính phủ về việc điều chỉnh tiền lương, trợ cấp xã hội và đổi mới một bước cơ chế quản lý tiền lương.
Riêng đối với đối tượng lao động là người Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, mức lương tối thiểu tiếp tục được áp dụng theo quy định riêng tại Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg ngày 26 tháng 3 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 203/2004/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 14 tháng 12 năm 2004 |
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 203/2004/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 12 NĂM 2004 QUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002;
Căn cứ Nghị quyết số 17/2003/QH11 ngày 04 tháng 11 năm 2003 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2004 và Nghị quyết số 19/2003/QH11 ngày 16 tháng 11 năm 2003 về nhiệm vụ 2004 của Quốc hội khoá XI;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
NGHỊ ĐỊNH:
Mức lương tối thiểu chung được điều chỉnh tuỳ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt và cung cầu lao động theo từng thời kỳ.
2. Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này áp dụng đối với:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
b) Công ty hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, gồm: công ty nhà nước; công ty thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập;
c) Công ty, doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;
d) Các hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức khác có thuê mướn lao động.
3. Mức lương tối thiểu chung quy định tại
2. Hệ số điều chỉnh tăng thêm so với mức lương tối thiểu chung để tính đơn giá tiền lương áp dụng trong các công ty hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ, tuỳ thuộc vào năng suất lao động, hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Hệ số điều chỉnh tăng thêm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật.
3. Các công ty, doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; các hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức khác có thuê mướn lao động được quyền định mức lương tối thiểu cao hơn mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này.
2. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan trình Chính phủ quy định hệ số điều chỉnh tăng thêm so với mức lương tối thiểu chung áp dụng trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
2. Các quy định tại Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 10 năm 2004.
3. Huỷ bỏ khoản 1 Điều 1; khoản 2 Điều 4 và khoản 2 Điều 6 Nghị định số 03/2003/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2003 của Chính phủ về việc điều chỉnh tiền lương, trợ cấp xã hội và đổi mới một bước cơ chế quản lý tiền lương.
4. Đối với lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tiếp tục áp dụng mức lương tối thiểu theo quy định tại Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg ngày 26 tháng 3 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Điều 6. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1Thông tư 88/2006/TT-BTC hướng dẫn xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu chung đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và điều chỉnh trợ cấp đối với cán bộ xã đã nghỉ việc năm 2006, 2007 do Bộ Tài chính ban hành
- 2Nghị định 166/2007/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu chung
- 1Thông tư 88/2006/TT-BTC hướng dẫn xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu chung đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và điều chỉnh trợ cấp đối với cán bộ xã đã nghỉ việc năm 2006, 2007 do Bộ Tài chính ban hành
- 2Bộ luật Lao động 1994
- 3Quyết định 53/1999/QĐ-TTG về một số biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Luật Doanh nghiệp 1999
- 5Nghị quyết 16/2000/NQ-CP về việc tinh giảm biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp do Chính phủ ban hành
- 6Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 7Bộ Luật Lao động sửa đổi 2002
- 8Nghị định 41/2002/NĐ-CP về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước
- 9Nghị quyết 09/2003/NQ-CP về việc tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp do Chính phủ ban hành, để sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP ngày 18/10/2000 của Chính phủ về việc tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp
- 10Nghị quyết số 19/2003/QH11 về nhiệm vụ năm 2004 do Quốc Hội ban hành
- 11Nghị định 155/2004/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 41/2002/NĐ-CP về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước
Nghị định 203/2004/NĐ-CP về việc mức lương tối thiểu chung
- Số hiệu: 203/2004/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 14/12/2004
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 18
- Ngày hiệu lực: 02/01/2005
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
