Nghị định số 14/2001/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định về việc quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ nhằm bảo đảm an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Nghị định thiết lập hành lang pháp lý chặt chẽ cho các tổ chức, cá nhân tham gia vào lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bảo vệ con người, tài sản, hàng hóa cũng như sản xuất trang thiết bị chuyên dùng phục vụ công tác bảo vệ tại Việt Nam.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Nghị định quy định chi tiết phạm vi áp dụng và các đối tượng được phép hoặc bị nghiêm cấm tham gia vào hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ:
- Phạm vi điều chỉnh: Bao gồm hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ con người; kinh doanh dịch vụ bảo vệ tài sản và hàng hóa; sản xuất, sửa chữa các phương tiện, thiết bị kỹ thuật đặc biệt chuyên dùng cho hoạt động dịch vụ bảo vệ.
- Trường hợp loại trừ: Không áp dụng đối với các mục tiêu, đối tượng thuộc danh mục nhà nước quy định do lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vũ trang canh gác, bảo vệ; hoặc các đối tượng do lực lượng bảo vệ nội bộ của các cơ quan, doanh nghiệp tự đảm nhiệm theo quy định pháp luật.
- Đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp bảo vệ: Tổ chức, cá nhân bị Luật Doanh nghiệp cấm; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế hoặc bị Tòa án cấm hành nghề; người có tiền án về tội cố ý chưa được xóa án tích; tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Đối tượng bị cấm trực tiếp thực hiện hoạt động bảo vệ: Toàn bộ các đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp nêu trên, ngoại trừ một số hoạt động sản xuất, sửa chữa phương tiện, thiết bị kỹ thuật đặc biệt chuyên dùng được cơ quan thẩm quyền cho phép.
Các hành vi bị nghiêm cấm
- Nghiêm cấm thành lập các doanh nghiệp để thực hiện hoạt động điều tra bí mật hoặc tiến hành các hoạt động vũ trang bảo vệ.
- Nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác.
Điều kiện và Thủ tục cấp phép hoạt động
Để đảm bảo an ninh trật tự, việc thành lập và vận hành doanh nghiệp dịch vụ bảo vệ phải tuân thủ quy trình nghiêm ngặt:
- Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự: Đây là điều kiện bắt buộc phải có trước khi cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc cho phép bổ sung ngành nghề kinh doanh dịch vụ bảo vệ. Giấy chứng nhận này do Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp.
- Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận: Bao gồm đơn xin cấp; hồ sơ đăng ký kinh doanh; danh sách và lý lịch có xác nhận của Công an cấp xã nơi cư trú của các sáng lập viên và nhân sự chủ chốt; quy chế tổ chức, hoạt động, phạm vi và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thời hạn giải quyết: Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Công an cấp tỉnh phải giải quyết việc cấp giấy chứng nhận. Trường hợp từ chối hoặc yêu cầu bổ sung phải thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do. Người nộp hồ sơ phải nộp lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính.
Quy định về hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ bảo vệ
Doanh nghiệp khi đi vào hoạt động phải tuân thủ các nghĩa vụ báo cáo và tiêu chuẩn nhân sự cụ thể:
- Nghĩa vụ thông báo trước khi hoạt động: Chậm nhất 10 ngày trước khi bắt đầu kinh doanh, người đứng đầu doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho Công an cấp tỉnh nơi đặt trụ sở về địa điểm, địa bàn và thời gian bắt đầu hoạt động, kèm theo bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và danh sách ban lãnh đạo.
- Hoạt động ngoại tỉnh: Nếu doanh nghiệp mở chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc hoạt động thường xuyên tại tỉnh khác, phải thông báo bằng văn bản và gửi danh sách nhân viên làm việc tại đó cho Công an cấp tỉnh nơi đến chậm nhất 10 ngày trước khi triển khai hoạt động.
- Tiêu chuẩn người đứng đầu doanh nghiệp: Phải có lý lịch rõ ràng, có kiến thức pháp luật và trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp, có kinh nghiệm thực tế trong công tác bảo vệ và không thuộc diện bị cấm quản lý doanh nghiệp.
- Tiêu chuẩn nhân viên bảo vệ: Phải có lý lịch rõ ràng được Công an cấp xã xác nhận, không thuộc diện bị cấm hoạt động bảo vệ. Khi làm nhiệm vụ, nhân viên phải đeo biển hiệu và mang theo Giấy chứng nhận nhân viên bảo vệ do Giám đốc doanh nghiệp cấp để xuất trình khi có yêu cầu.
- Trách nhiệm xử lý sự cố: Khi phát hiện các vụ việc ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại khu vực bảo vệ (như cháy, nổ, tai nạn, gây rối trật tự, hành vi có dấu hiệu tội phạm), nhân viên bảo vệ có trách nhiệm bảo vệ hiện trường, sơ cứu nạn nhân, áp dụng biện pháp hạn chế thiệt hại và báo ngay cho cơ quan Công an gần nhất.
Quản lý phương tiện, thiết bị kỹ thuật chuyên dùng
- Việc xuất khẩu, nhập khẩu các phương tiện, thiết bị kỹ thuật đặc biệt chuyên dùng cho hoạt động bảo vệ phải được Bộ Công an chấp thuận bằng văn bản trước khi làm thủ tục.
- Các cơ sở sản xuất thiết bị chuyên dùng phải ghi rõ tên cơ sở trên sản phẩm, đồng thời thực hiện đăng ký và lưu mẫu tại Công an cấp tỉnh.
Trách nhiệm quản lý nhà nước
- Bộ Công an: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ trên phạm vi cả nước. Bộ Công an có quyền quy định điều kiện cụ thể; chỉ đạo kiểm tra, hướng dẫn thực hiện quy định; kiểm tra chương trình đào tạo nghiệp vụ và xử lý vi phạm theo thẩm quyền.
- Các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp: Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, phối hợp với Bộ Công an để quản lý, hướng dẫn và chỉ đạo hoạt động của các doanh nghiệp bảo vệ theo đúng quy định pháp luật.
Khen thưởng, Xử lý vi phạm và Điều khoản thi hành
- Khen thưởng: Tổ chức, cá nhân có đóng góp tích cực vào công tác bảo vệ an ninh, trật tự sẽ được xem xét khen thưởng theo quy định của Nhà nước.
- Xử lý vi phạm: Doanh nghiệp và cá nhân vi phạm quy định sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm; nếu gây thiệt hại tài sản phải bồi thường. Cơ quan Công an có quyền yêu cầu doanh nghiệp chấm dứt sử dụng nhân sự không đủ tiêu chuẩn. Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc cấp phép hoặc quản lý hoạt động này cũng sẽ bị xử lý nghiêm khắc.
- Quy định chuyển tiếp: Doanh nghiệp 100% vốn trong nước đã hoạt động trước khi Nghị định ban hành không phải đăng ký lại nhưng phải bổ sung thủ tục còn thiếu trong vòng 60 ngày kể từ ngày Nghị định có hiệu lực. Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài đã được cấp phép trước đó được tiếp tục hoạt động đến hết thời hạn giấy phép nhưng không được mở rộng quy mô, địa bàn hoặc bổ sung ngành nghề. Các trường hợp hoạt động không phép phải bị đình chỉ ngay lập tức.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 14/2001/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 14/2001/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2001 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Để thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ, nhằm đáp ứng yêu cầu việc bảo đảm an ninh, trật tự và phát triển kinh tế - xã hội;
ưTheo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an,
NGHỊ ĐỊNH:
a) Hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ con người;
b) Hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ tài sản và hàng hóa;
c) Sản xuất, sửa chữa các phương tiện, thiết bị kỹ thuật đặc biệt chuyên dùng cho hoạt động dịch vụ bảo vệ.
2. Những đối tượng, mục tiêu thuộc danh mục nhà nước quy định do lực lượng Quân đội và Công an nhân dân có trách nhiệm vũ trang canh gác, bảo vệ và những đối tượng mà pháp luật quy định do lực lượng bảo vệ của các cơ quan, doanh nghiệp đảm nhiệm không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.
2. Những tổ chức, cá nhân sau đây không được thành lập và quản lý doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ:
a) Tổ chức, cá nhân mà Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật khác cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp;
b) Người đang bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác, đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế hoặc bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh dịch vụ bảo vệ;
c) Người có tiền án về các tội do lỗi cố ý hoặc người đã bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác mà theo quy định của pháp luật chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính;
d) Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài hoặc của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
3. Những tổ chức, cá nhân sau đây không được trực tiếp thực hiện các hoạt động dịch vụ bảo vệ:
a) Tổ chức, cá nhân được quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài, hoặc của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trừ một số hoạt động sản xuất, sửa chữa các phương tiện, thiết bị kỹ thuật đặc biệt chuyên dùng cho hoạt động dịch vụ bảo vệ quy định tại
Mọi hành vi vi phạm quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên quan đến tổ chức và hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO VỆ
2. Trong hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc xin bổ sung ngành nghề kinh doanh dịch vụ bảo vệ phải có "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" do Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận cấp đăng ký kinh doanh hoặc cho phép bổ sung ngành nghề kinh doanh dịch vụ bảo vệ chỉ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sau khi có "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" của Công an cấp tỉnh.
1. Hồ sơ xin cấp "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" gồm:
a) Đơn xin cấp "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự";
b) Hồ sơ gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ bảo vệ hoặc xin bổ sung ngành nghề kinh doanh dịch vụ bảo vệ;
c) Danh sách và lý lịch (có ảnh và xác nhận của Công an cấp xã nơi cư trú) của sáng lập viên và những người dự kiến giữ các chức vụ chủ chốt của doanh nghiệp;
d) Quy chế về tổ chức và hoạt động, phạm vi, quy mô kinh doanh dịch vụ bảo vệ.
2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Công an cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết việc cấp "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" cho người nộp hồ sơ.
Trường hợp không đủ điều kiện hoặc hồ sơ không đầy đủ theo quy định tại
3. Người xin cấp "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" phải nộp lệ phí. Mức thu lệ phí và chế độ quản lý, sử dụng lệ phí do Bộ Tài chính quy định.
2. Cơ sở sản xuất phương tiện, thiết bị kỹ thuật đặc biệt chuyên dùng cho hoạt động dịch vụ bảo vệ phải ghi rõ tên cơ sở sản xuất trên sản phẩm và phải đăng ký, lưu mẫu tại Công an cấp tỉnh.
1. Quy định các điều kiện cụ thể về an ninh, trật tự trong hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ;
3. Kiến nghị với Chính phủ ban hành hoặc sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan đến việc đảm bảo an ninh, trật tự trong hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ.
Mọi hành vi vi phạm quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên quan đến tổ chức và hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây thiệt hại về tài sản thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Trường hợp phát hiện doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ có người không đủ tiêu chuẩn theo quy định tại
2. Doanh nghiệp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép liên doanh với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ từ trước khi ban hành Nghị định này, được tiếp tục hoạt động đến hết thời hạn ghi trong giấy phép, nhưng không được mở rộng quy mô, địa bàn hoạt động hoặc bổ sung ngành nghề kinh doanh dịch vụ bảo vệ. Trong thời gian được tiếp tục hoạt động phải tuân theo quy định tại Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
3. Doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp liên doanh với tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ mà không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì phải đình chỉ hoạt động.
Điều 20. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký.
Bộ Công an hướng dẫn chi tiết việc thi hành Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
Nghị định 14/2001/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ
- Số hiệu: 14/2001/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 25/04/2001
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 20
- Ngày hiệu lực: 10/05/2001
- Ngày hết hiệu lực: 17/05/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
