Nghị định 07-CP được ban hành năm 1994 bởi Chính phủ, kèm theo Quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân, nhằm thiết lập khung pháp lý đầu tiên cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam. Văn bản quy định chi tiết về hoạt động kiểm toán độc lập, tiêu chuẩn kiểm toán viên, điều kiện thành lập tổ chức kiểm toán và công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Đối tượng áp dụng bao gồm các tổ chức kiểm toán độc lập của Việt Nam, các tổ chức kiểm toán nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, các kiểm toán viên và các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu kiểm toán.
Khái niệm và nguyên tắc hoạt động của kiểm toán độc lập
- Kiểm toán độc lập là hoạt động kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn, hợp pháp của các chứng từ, số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, tổ chức.
- Hoạt động kiểm toán được thực hiện theo yêu cầu tự nguyện của các đối tượng có nhu cầu. Khách hàng được tự do lựa chọn các tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động hợp pháp tại Việt Nam để ký kết hợp đồng.
- Khách hàng có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời mọi tài liệu liên quan và thanh toán phí dịch vụ đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng.
- Công việc kiểm toán phải tuân thủ trình tự và phương pháp nghiệp vụ chuyên môn do Bộ Tài chính quy định. Khi kết thúc, kiểm toán viên phải lập báo cáo kiểm toán khách quan, trung thực, ký tên và chịu trách nhiệm về ý kiến nhận xét của mình. Báo cáo phải được lãnh đạo tổ chức kiểm toán xác nhận, ký tên và đóng dấu.
- Các tổ chức kiểm toán nước ngoài hoạt động tại Việt Nam phải được Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư cấp giấy phép sau khi có sự thỏa thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính, đồng thời phải tuân thủ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các thông lệ quốc tế được Nhà nước Việt Nam thừa nhận.
Tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề của kiểm toán viên
- Kiểm toán viên phải là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài được phép cư trú tại Việt Nam, có đăng ký hành nghề tại một tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam.
- Đối với công dân Việt Nam, điều kiện để được công nhận là kiểm toán viên bao gồm: có lý lịch rõ ràng, phẩm chất trung thực, liêm khiết, nắm vững pháp luật và chế độ tài chính, kế toán; không có tiền án, tiền sự; có bằng tốt nghiệp đại học hoặc trung học chuyên ngành tài chính, kế toán; có thâm niên công tác tài chính, kế toán từ 5 năm trở lên (đối với trình độ đại học) hoặc từ 10 năm trở lên (đối với trình độ trung học); đã trúng tuyển kỳ thi tuyển cấp Nhà nước và được Bộ trưởng Bộ Tài chính cấp chứng chỉ.
- Công chức Nhà nước đương chức không được phép đăng ký hành nghề tại các tổ chức kiểm toán độc lập. Kiểm toán viên đã bị rút giấy phép đăng ký hành nghề thì không được đăng ký hành nghề lại.
- Công dân nước ngoài được đăng ký hành nghề tại Việt Nam nếu có chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam cấp hoặc có chứng chỉ do tổ chức kiểm toán quốc tế được Bộ Tài chính Việt Nam thừa nhận cấp.
Phạm vi dịch vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm toán viên
- Kiểm toán viên được thực hiện các dịch vụ: Kiểm tra tính hợp pháp của chứng từ, tài liệu kế toán; kiểm tra và xác nhận mức độ trung thực của báo cáo quyết toán; xác nhận giá trị vốn góp của các bên liên doanh, cổ đông; xác nhận số liệu kế toán khi giải thể, sáp nhập, chia tách, cổ phần hóa, phá sản; thực hiện giám định tài chính, kế toán và tư vấn quản lý, thuế.
- Nguyên tắc hành nghề: Tuân thủ pháp luật Việt Nam; bảo đảm tính trung thực, độc lập, khách quan, công bằng và bảo mật số liệu; tuân thủ các chuẩn mực kế toán, kiểm toán của Việt Nam và quốc tế được thừa nhận; không thực hiện dịch vụ cho các đơn vị mà bản thân có quan hệ kinh tế hoặc quan hệ họ hàng thân thuộc với người lãnh đạo.
- Trách nhiệm của kiểm toán viên: Chịu trách nhiệm trước pháp luật, tổ chức kiểm toán và khách hàng về kết quả kiểm toán; không gây trở ngại hoặc can thiệp vào công việc điều hành của đơn vị được kiểm toán; chỉ nhận phí theo thỏa thuận hợp đồng; nếu vi phạm có thể bị thu hồi chứng chỉ, xử lý pháp luật hoặc bồi thường thiệt hại vật chất gây ra cho khách hàng.
- Quyền hạn của kiểm toán viên: Độc lập về chuyên môn nghiệp vụ; yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ tài liệu liên quan; đối chiếu, xác minh thông tin kinh tế trong và ngoài đơn vị; kiến nghị đơn vị sửa chữa sai phạm khi phát hiện vi phạm pháp luật và ghi ý kiến vào báo cáo; có quyền khước từ thực hiện kiểm toán nếu thấy không đủ điều kiện hoặc năng lực.
Điều kiện thành lập và hoạt động của tổ chức kiểm toán độc lập
- Điều kiện thành lập: Đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp theo quy định pháp luật; có ít nhất 5 người có chứng chỉ kiểm toán viên, trong đó người đứng đầu tổ chức bắt buộc phải là kiểm toán viên; được Bộ trưởng Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản và cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép thành lập.
- Thủ tục sau thành lập: Thực hiện đăng ký kinh doanh, đăng báo theo quy định và đăng ký danh sách kiểm toán viên tại Bộ Tài chính. Mọi thay đổi về nội dung đăng ký phải thực hiện đăng ký lại hoặc xin phép bổ sung.
- Trách nhiệm của tổ chức: Quản lý hoạt động nghề nghiệp của kiểm toán viên thuộc quyền; chịu trách nhiệm trước pháp luật và khách hàng về các vi phạm quy chế hành nghề; bồi thường thiệt hại do lỗi của tổ chức hoặc kiểm toán viên gây ra cho khách hàng.
- Chế độ tài chính: Hoạt động theo mô hình hạch toán kinh tế độc lập, được thu phí dịch vụ để trang trải chi phí dựa trên khung giá do Bộ Tài chính quy định; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước; mua bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp tại các tổ chức bảo hiểm.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động kiểm toán độc lập
- Các tổ chức kiểm toán độc lập chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước như một doanh nghiệp thông thường.
- Cơ quan nhà nước khi sử dụng số liệu đã được kiểm toán, nếu phát hiện nghi vấn thì có quyền kiểm tra lại và đưa ra quyết định quản lý trong phạm vi thẩm quyền. Đơn vị kế toán phải chấp hành quyết định này, nhưng có quyền yêu cầu tổ chức kiểm toán xem xét lại hoặc kiến nghị lên cơ quan tài chính địa phương, Bộ Tài chính giải quyết nếu có bất đồng.
- Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước cao nhất đối với hoạt động kiểm toán, bao gồm: Ban hành chuẩn mực, phương pháp nghiệp vụ kiểm toán; quản lý công tác đào tạo, thi tuyển và cấp chứng chỉ kiểm toán viên; thẩm định hồ sơ thành lập tổ chức kiểm toán và quản lý thống nhất danh sách kiểm toán viên; quy định khung giá phí kiểm toán; kiểm tra việc tuân thủ pháp luật và giải quyết các tranh chấp về kết quả kiểm toán (ý kiến của Bộ trưởng Bộ Tài chính là quyết định cuối cùng).
Hiệu lực thi hành
Nghị định 07-CP và Quy chế kèm theo có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Quy chế này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành chi tiết Quy chế này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 07-CP | Hà Nội, ngày 29 tháng 1 năm 1994 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và thống nhất quản lý hoạt động kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,
NGHỊ ĐỊNH :
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
QUY CHẾ
VỀ KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
(Ban hành kèm theo Nghị định số 7-CP ngày 29-1-1994 của Chính phủ)
Sau khi có xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thì các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các đơn vị kế toán là căn cứ cho việc điều hành, quản lý hoạt động ở đơn vị, cho các cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính Nhà nước xét duyệt quyết toán hàng năm của các đơn vị kế toán, cho cơ quan thuế tính toán số thuế và các khoản nộp khác của đơn vị đối với ngân sách Nhà nước, cho các cổ đông, các nhà đầu tư, các bên tham gia liên doanh, các khách hàng và các tổ chức, cá nhân xử lý các mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan trong quá trình hoạt động của đơn vị.
Hoạt động kiểm toán độc lập còn giúp các đơn vị kế toán phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai sót do vô tình hay cố ý, phòng ngừa các vi phạm và thiệt hại có thể xẩy ra trong kinh doanh và sử dụng kinh phí.
Điều 2. - Kiểm toán độc lập được thực hiện theo yêu cầu của các đối tượng sau đây:
1. Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam;
2. Các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần;
3. Các doanh nghiệp tư nhân;
4. Các hợp tác xã;
5. Các doanh nghiệp Nhà nước;
6. Các tổ chức sự nghiệp, đoàn thể xã hội;
7. Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.
Điều 5. - Bộ Tài chính là cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động kiểm toán độc lập.
Đối tượng yêu cầu kiểm toán có trách nhiệm cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực mọi thông tin tài liệu cần thiết có liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho kiểm toán viên thực hiện kiểm toán và trả đủ, kịp thời phí kiểm toán theo thoả thuận trong hợp đồng.
1. Có lý lịch rõ ràng; phẩm chất trung thực, liêm khiết, nắm vững luật pháp và chính sách, chế độ kinh tế, tài chính, kế toán, thống kê của Nhà nước; không có tiền án, tiền sự.
2. Có bằng tốt nghiệp đại học hoặc trung học chuyên ngành tài chính, kế toán, đã làm công tác tài chính, kế toán từ 5 năm trở lên (nếu tốt nghiệp đại học) hoặc 10 năm trở lên (nếu tốt nghiệp trung học).
Điều 13. - Kiểm toán viên được thực hiện các dịch vụ kiểm toán sau đây:
1. Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tài liệu, số liệu kế toán, việc chấp hành chế độ, thể lệ kế toán, tài chính của Nhà nước.
2. Kiểm tra và xác nhận mức độ trung thực, hợp lý của báo cáo quyết toán do các đơn vị kế toán lập ra.
3. Kiểm tra và xác nhận giá trị vốn góp của các bên tham gia liên doanh, của các cổ đông, kiểm tra xác nhận tính trung thực, chính xác, đầy đủ của số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các đơn vị liên doanh, giải thể, sáp nhập, chia tách, cổ phần hoá, phá sản và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
4. Giám định tài chính, kế toán và các dịch vụ tư vấn về quản lý tài chính, kế toán, thuế theo yêu cầu của khách hàng.
Điều 14. - Kiểm toán viên thực hiện nhiệm vụ kiểm toán theo đúng các nguyên tắc sau đây:
1. Tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
2. Bảo đảm trung thực, độc lập, khách quan, công bằng và bí mật số liệu.
3. Tuân thủ các chuẩn mực kế toán và kiểm toán hiện hành của Việt Nam và các chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc tế phổ biến được Nhà nước Việt Nam thừa nhận.
Điều 15. - Kiểm toán viên có trách nhiệm:
1. Chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc kiểm toán quy định tại điều 14 Quy chế này; thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng kiểm toán; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước tổ chức kiểm toán độc lập và trước khách hàng về kết quả kiểm toán và ý kiến nhận xét trong báo cáo kiểm toán.
2. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, kiểm toán viên không được gây trở ngại hoặc can thiệp vào công việc điều hành của đơn vị đang kiểm toán và chỉ được nhận phí kiểm toán đã thoả thuận trong hợp đồng kiểm toán.
3. Kiểm toán viên vi phạm Quy chế này, vi phạm pháp luật có thể bị thu hồi chứng chỉ kiểm toán viên và bị xử lý theo pháp luật, nếu gây thiệt hại vật chất cho khách hàng thì phải bồi thường.
Điều 16. - Kiểm toán viên có quyền:
1. Độc lập về chuyên môm nghiệp vụ.
2. Yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu về kế toán, tài chính và các tài liệu khác có liên quan đến nội dung kiểm toán.
3. Đối chiếu, xác minh các thông tin kinh tế có liên quan tới đơn vị được kiểm toán, ở trong và ở ngoài dơn vị (nếu cần).
4. Trong quá trình kiểm toán, nếu phát hiện đơn vị được kiểm toán có hiện tượng vi phạm pháp luật, kiểm toán viên được quyền thông báo và kiến nghị đơn vị có biện pháp sửa chữa sai phạm và có quyền ghi ý kiến của mình vào báo cáo kiểm toán.
5. Khước từ làm kiểm toán cho khách hàng, nếu xét thấy không đủ điều kiện hoặc không đủ khả năng để kiểm toán.
1. Có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật hiện hành về việc thành lập các loại doanh nghiệp.
2. Có ít nhất 5 người trở lên được cấp chứng chỉ kiểm toán viên. Người đứng đầu tổ chúc kiểm toán phải là kiểm toán viên.
3. Được Bộ trưởng Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập theo quy định của pháp luật.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
Các cơ quan quản lý Nhà nước khi sử dụng các số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các dơn vị kế toán đã được tổ chức kiểm toán độc lập kiểm tra xác nhận, nếu thấy có ghi vấn thì kiểm tra lại và trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình đưa ra các quyết định quản lý. Đơn vị kế toán phải chấp hành quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước, đồng thời yêu cầu tổ chức kiểm toán xem xét lại kết quả kiểm toán, nếu có bất đồng và tranh chấp thì kiến nghị lên cơ quan tài chính địa phương hoặc Bộ Tài chính xem xét, xử lý.
1. Ban hành các nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán và các tài liệu hướng dẫn về phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán.
3. Thẩm định hồ sơ xin phép thành lập tổ chức kiểm toán, tổ chức đăng ký và thực hiện việc quản lý thống nhất danh sách kiểm toán viên.
4. Quy định khung giá phí kiểm toán để áp dụng thống nhất trong hoạt động kiểm toán.
5. Kiểm tra việc tuân thủ pháp luật và quy chế kiểm toán trong hoạt động của các tổ chức kiểm toán, xử lý các bất đồng và tranh chấp về kết quả kiểm toán.
ý kiến của Bộ trưởng Bộ Tài chính về các bất đồng và tranh chấp về kết quả kiểm toán là ý kiến cuối cùng.
Điều 24. - Các quy định trước đây trái với Quy chế này đều bãi bỏ.
- 1Nghị định 133/2005/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 105/2004/NĐ-CP về Kiểm toán độc lập
- 2Thông tư 60/2006/TT-BTC hướng dẫn tiêu chuẩn, điều kiện thành lập và hoạt động đối với doanh nghiệp kiểm toán do Bộ Tài chính ban hành
- 3Quyết định 322/1999/QĐ-NHNN5 về Quy chế tổ chức thực hiện kiểm toán độc lập đối với các Tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 4Nghị định 105/2004/NĐ-CP về kiểm toán độc lập
- 5Quyết định 121/2005/QĐ-NHNN về Quy chế về kiểm toán độc lập đối với các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 1Nghị định 133/2005/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 105/2004/NĐ-CP về Kiểm toán độc lập
- 2Thông tư 60/2006/TT-BTC hướng dẫn tiêu chuẩn, điều kiện thành lập và hoạt động đối với doanh nghiệp kiểm toán do Bộ Tài chính ban hành
- 3Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 4Thông tư 22-TC/CĐKT năm 1994 hướng dẫn thực hiện Quy chế kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân kèm theo Nghị định 7-CP 1994 do Bộ Tài chính ban hành
- 5Quyết định 322/1999/QĐ-NHNN5 về Quy chế tổ chức thực hiện kiểm toán độc lập đối với các Tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 6Quyết định 121/2005/QĐ-NHNN về Quy chế về kiểm toán độc lập đối với các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 7Quyết định 237 TC/QĐ/CĐKT năm 1994 ban hành Quy chế thi tuyển và cấp chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ Tài chính ban hành
Nghị định 07-CP năm 1994 ban hành Quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân
- Số hiệu: 07-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 29/01/1994
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 5
- Ngày hiệu lực: 29/01/1994
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
