Nghị định số 03/2012/NĐ-CP được Chính phủ ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 109/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đường sắt. Nghị định này tập trung điều chỉnh các quy định về quản lý đất dành cho đường sắt, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, bảo đảm an toàn giao thông tại các điểm giao cắt và quản lý phương tiện động lực chuyên dùng đường sắt.
Đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước về đường sắt, doanh nghiệp kinh doanh đường sắt, chủ đầu tư các dự án đường sắt, Ủy ban nhân dân các cấp và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đường sắt tại Việt Nam.
1. Sửa đổi phạm vi điều chỉnh của Nghị định hướng dẫn Luật Đường sắt
Nghị định 03/2012/NĐ-CP bổ sung và làm rõ phạm vi điều chỉnh bao gồm:
- Kết cấu hạ tầng đường sắt và đường sắt đô thị.
- Hoạt động kinh doanh đường sắt và quản lý, sử dụng nguồn tài chính cho việc quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt do Nhà nước đầu tư.
- Chính sách miễn, giảm giá vé cho các đối tượng chính sách xã hội.
- Quy định về phương tiện động lực chuyên dùng đường sắt.
- Danh mục hàng nguy hiểm và quy trình vận tải hàng nguy hiểm trên đường sắt.
- Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông vận tải đường sắt.
2. Quy định chi tiết về cắm mốc chỉ giới đất dành cho đường sắt
Việc cắm mốc chỉ giới đất dành cho đường sắt được phân định rõ ràng theo từng trường hợp cụ thể:
- Đối với đất quy hoạch dành cho đường sắt: Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có quy hoạch để thực hiện cắm mốc chỉ giới.
- Đối với đất đường sắt nâng cấp, cải tạo hoặc xây dựng mới (sau ngày 01/01/2006): Chủ đầu tư dự án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng phương án cắm mốc chỉ giới xác định phạm vi bảo vệ công trình và hành lang an toàn, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Trong thời hạn tối đa 03 tháng kể từ ngày được phê duyệt, chủ đầu tư phải công bố công khai, tổ chức cắm mốc trên thực địa và bàn giao mốc cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý.
- Đối với đất đường sắt đang khai thác (có trước ngày 01/01/2006): Doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện lập phương án trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Thời hạn thực hiện công bố, cắm mốc thực địa và bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã cũng là không quá 03 tháng kể từ ngày phương án được phê duyệt.
3. Quy trình bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng đất đường sắt
Nghị định đưa ra giải pháp cụ thể cho trường hợp đủ kinh phí và chưa đủ kinh phí thực hiện giải phóng mặt bằng:
- Trường hợp đủ kinh phí: Tiến hành bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng ngay đối với toàn bộ đất xây dựng công trình, đất trong phạm vi bảo vệ và đất hành lang an toàn giao thông đường sắt theo quy định của Luật Đường sắt và pháp luật đất đai.
- Trường hợp chưa đủ kinh phí đối với đường sắt xây dựng mới hoặc nâng cấp (sau ngày 01/01/2006): Thực hiện theo 3 bước:
- Bước 1: Giải phóng mặt bằng phạm vi bảo vệ công trình đường sắt. Nếu mặt bằng thực tế quá chật hẹp, phạm vi bảo vệ cầu đường sắt theo chiều ngang được phép thu hẹp nhưng phải có biện pháp bảo vệ an toàn cần thiết.
- Bước 2: Giải phóng mặt bằng phạm vi hành lang an toàn nằm ngoài phạm vi bảo vệ. Nếu việc sử dụng đất ảnh hưởng đến an toàn đường sắt hoặc hoạt động đường sắt ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe người dân thì tiến hành thu hồi và bồi thường. Nếu không ảnh hưởng, người dân được tiếp tục sử dụng đất đúng mục đích nhưng phải tuân thủ quy định an toàn.
- Bước 3: Hoàn thành toàn bộ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trong phạm vi bảo vệ và hành lang an toàn theo đúng quy định của Luật Đường sắt.
- Trường hợp chưa đủ kinh phí đối với đường sắt đang khai thác (trước ngày 01/01/2006): Thực hiện theo 2 bước:
- Bước 1: Giải phóng mặt bằng trong phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn nền đường sắt (chiều rộng 5 mét từ chân nền đường đắp hoặc mép đỉnh nền đường đào; 3 mét từ chân rãnh dọc/rãnh đỉnh; 5,6 mét từ mép ngoài ray ngoài cùng đối với nền đường không đào không đắp). Đối với phần đất ngoài phạm vi này đến hết hành lang an toàn, việc thu hồi đất chỉ đặt ra nếu có ảnh hưởng hai chiều đến an toàn giao thông hoặc đời sống người dân; nếu không ảnh hưởng thì người dân tiếp tục sử dụng đất.
- Bước 2: Tiến hành bồi thường, giải phóng mặt bằng toàn bộ phạm vi bảo vệ và hành lang an toàn theo quy định.
- Nguyên tắc bồi thường tài sản, công trình trên đất: Công trình xây dựng trước khi công bố phạm vi bảo vệ, hành lang an toàn đường sắt được bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi. Công trình xây dựng sau khi đã công bố mốc giới thì chủ công trình phải tự dỡ bỏ và không được bồi thường, hỗ trợ (trừ các công trình đặc thù được phép xây dựng theo quy định pháp luật).
4. Bảo đảm tầm nhìn tại các điểm giao cắt đồng mức giữa đường bộ và đường sắt
Nghị định bổ sung quy định nghiêm cấm xây dựng các công trình trong phạm vi góc cắt tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và đường sắt tại các điểm giao cắt đồng mức không bố trí người gác. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm quy định chi tiết phạm vi góc cắt tầm nhìn đối với từng loại điểm giao cắt này để bảo đảm an toàn, phòng ngừa tai nạn.
5. Quy định mới về phương tiện động lực chuyên dùng đường sắt
Nghị định bổ sung Chương Va quy định riêng về phương tiện động lực chuyên dùng đường sắt:
- Phân loại phương tiện: Gồm phương tiện chuyên dùng di chuyển trên đường sắt để vận chuyển người, vật tư, thiết bị phục vụ chuyên ngành đường sắt; và phương tiện chuyên dùng phục vụ cứu viện, cứu hộ tai nạn, kiểm tra, thi công, bảo dưỡng, sửa chữa công trình đường sắt hoặc phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh.
- Yêu cầu trang thiết bị: Các phương tiện chuyên dùng vận chuyển người và vật tư khi khai thác trên đường sắt phải tuân thủ đầy đủ các quy định về an toàn kỹ thuật của Luật Đường sắt.
- Trường hợp đặc biệt: Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể danh mục và biện pháp an toàn đối với các phương tiện chuyên dùng cứu viện, cứu hộ, thi công, bảo dưỡng, phục vụ quốc phòng, an ninh mà không bắt buộc phải lắp đặt thiết bị ghi tốc độ và thiết bị ghi thông tin điều hành chạy tàu (hộp đen).
6. Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
Nghị định 03/2012/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02 tháng 3 năm 2012.
Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành các nội dung của Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định được sửa đổi, bổ sung.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 03/2012/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 19 tháng 01 năm 2012 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đường sắt ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 109/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đường sắt
1. Sửa đổi, bổ sung
“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đường sắt về kết cấu hạ tầng đường sắt; đường sắt đô thị; kinh doanh đường sắt; quản lý, sử dụng nguồn tài chính cho quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt do Nhà nước đầu tư; miễn, giảm giá vé cho đối tượng chính sách xã hội; phương tiện động lực chuyên dùng đường sắt; danh mục hàng nguy hiểm và việc vận tải hàng nguy hiểm trên đường sắt; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) trong việc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông vận tải đường sắt.”
2. Sửa đổi, bổ sung
“3. Đất dành cho đường sắt phải được cắm mốc chỉ giới. Việc cắm mốc chỉ giới được quy định như sau:
a) Đối với đất quy hoạch dành cho đường sắt:
Việc cắm mốc chỉ giới do Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có quy hoạch đường sắt thực hiện.
b) Đối với đất dành cho đường sắt khi thực hiện nâng cấp, cải tạo từ đường sắt đang khai thác hoặc xây dựng mới từ sau ngày Luật Đường sắt có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2006, chủ đầu tư dự án có trách nhiệm sau đây:
Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có công trình đường sắt xây dựng phương án cắm mốc chỉ giới xác định phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, phạm vi hành lang an toàn giao thông đường sắt, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có công trình đường sắt phê duyệt. Trong thời hạn không quá ba tháng kể từ ngày được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt phương án cắm mốc chỉ giới, chủ đầu tư dự án phải chủ trì, phối hợp cùng Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có công trình đường sắt công bố công khai mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ công trình đường sắt hành lang an toàn giao thông đường sắt và tổ chức cắm mốc chỉ giới trên thực địa, bàn giao mốc chỉ giới cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có công trình đường sắt quản lý, bảo vệ.
c) Đối với đất dành cho đường sắt đang khai thác và có từ trước ngày Luật Đường sắt có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2006, doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt có trách nhiệm sau đây:
Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có công trình đường sắt xây dựng phương án cắm mốc chỉ giới xác định phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, hành lang an toàn giao thông đường sắt trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có công trình đường sắt phê duyệt. Trong thời hạn không quá ba tháng, kể từ ngày được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có công trình đường sắt phê duyệt phương án cắm mốc chỉ giới, doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt phải chủ trì, phối hợp cùng Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có công trình đường sắt công bố công khai mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, hành lang an toàn giao thông đường sắt và tổ chức cắm mốc chỉ giới trên thực địa, bàn giao mốc chỉ giới cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có công trình đường sắt quản lý, bảo vệ.
4. Công tác bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đối với đất dành cho đường sắt được quy định như sau:
a) Đối với đất dành cho đường sắt khi nâng cấp, cải tạo từ đường sắt đang khai thác hoặc xây dựng mới từ sau ngày Luật Đường sắt có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2006:
- Trường hợp đủ kinh phí thì tiến hành ngay công tác bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đối với đất để xây dựng công trình đường sắt, đất trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt và đất trong phạm vi hành lang an toàn giao thông đường sắt theo quy định của Luật Đường sắt và pháp luật về đất đai.
- Trường hợp chưa đủ kinh phí để thực hiện ngay công tác giải phóng mặt bằng đối với đất dành cho đường sắt theo quy định của Luật Đường sắt thì thực hiện theo các bước sau đây:
Bước 1: Tiến hành bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đối với đất trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt theo quy định của Luật Đường sắt. Trường hợp do mặt bằng thực tế chật hẹp dẫn đến phạm vi bảo vệ cầu đường sắt theo chiều ngang không đủ theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 28 Luật Đường sắt thì phạm vi bảo vệ cầu đường sắt theo chiều ngang được phép xác định theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 28 Luật Đường sắt nhưng phải có biện pháp bảo vệ cần thiết để bảo đảm an toàn cho cầu đường sắt.
Bước 2: Tiến hành bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đối với đất trong phạm vi hành lang an toàn giao thông đường sắt nhưng nằm ngoài phạm vi bảo vệ công trình đường sắt theo quy định sau đây:
Trường hợp sử dụng đất ảnh hưởng đến an toàn công trình, an toàn giao thông đường sắt hoặc hoạt động của công trình đường sắt ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe người sử dụng đất thì cơ quan quản lý nhà nước về đường sắt tiến hành thẩm định mức độ ảnh hưởng, nếu phải thu hồi đất thì đề nghị Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất đó. Người có đất thu hồi được bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp sử dụng đất không ảnh hưởng đến an toàn công trình, an toàn giao thông đường sắt hoặc hoạt động của công trình đường sắt không ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe của người sử dụng đất thì người đang sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất theo đúng mục đích đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng phải thực hiện đúng các quy định về bảo đảm an toàn công trình, an toàn giao thông đường sắt.
Bước 3: Tiến hành bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đối với đất trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, phạm vi hành lang an toàn giao thông đường sắt theo quy định của Luật Đường sắt.
b) Đối với đường sắt đang khai thác được xây dựng từ trước ngày Luật Đường sắt có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2006:
- Trường hợp đủ kinh phí thì tiến hành ngay công tác bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đối với đất để xây dựng công trình đường sắt, đất trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, đất trong phạm vi hành lang an toàn giao thông đường sắt theo quy định của Luật Đường sắt và pháp luật về đất đai.
- Trường hợp chưa đủ kinh phí để thực hiện ngay công tác bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đối với đất dành cho đường sắt theo quy định của Luật Đường sắt thì thực hiện theo các bước sau đây:
Bước 1: Tiến hành bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đối với đất trong phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn của nền đường sắt theo quy định sau đây: chiều rộng 5 mét kể từ chân nền đường đối với nền đường đắp hay kể từ mép đỉnh đối với nền đường đào, hoặc 3 mét từ chân rãnh dọc hay rãnh đỉnh của đường; 5,6 mét tính từ mép ngoài của ray ngoài cùng trở ra đối với nền đường không đào, không đắp. Riêng phạm vi bảo vệ cầu đường sắt theo chiều ngang được xác định theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 28 Luật Đường sắt.
Đối với đất nằm ngoài phạm vi an toàn của nền đường sắt theo quy định trên đến hết chỉ giới phạm vi hành lang an toàn giao thông đường sắt được xử lý như sau:
Trường hợp sử dụng đất ảnh hưởng đến an toàn công trình, an toàn giao thông đường sắt hoặc hoạt động của công trình đường sắt ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe người sử dụng đất thì cơ quan quản lý nhà nước về đường sắt tiến hành thẩm định mức độ ảnh hưởng, nếu phải thu hồi đất thì đề nghị Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất đó. Người có đất thu hồi được bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp sử dụng đất không ảnh hưởng đến an toàn công trình, an toàn giao thông đường sắt hoặc hoạt động của công trình đường sắt không ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe của người sử dụng đất thì người đang sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất theo đúng mục đích đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng phải thực hiện đúng các quy định về bảo đảm an toàn công trình, an toàn giao thông đường sắt.
Bước 2: Tiến hành bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đối với đất trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, phạm vi hành lang an toàn giao thông đường sắt theo quy định của Luật Đường sắt.
c) Bồi thường, hỗ trợ tài sản, công trình trên đất khi thu hồi đất:
- Đối với công trình xây dựng trước khi phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, hành lang an toàn giao thông đường sắt được công bố theo quy định của pháp luật thì chủ công trình được bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất theo quy định pháp luật về đất đai.
- Đối với công trình xây dựng sau khi phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, hành lang an toàn giao thông đường sắt được công bố theo quy định của pháp luật thì chủ công trình phải tự dỡ bỏ và không được bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất, trừ các công trình được phép xây dựng theo quy định tại Điều 33 của Luật Đường sắt.”
3. Bổ sung
“e) Tại điểm giao cắt đồng mức giữa đường sắt và đường bộ không bố trí người gác không được xây dựng công trình trong phạm vi góc cắt tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và đường sắt.
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể phạm vi góc cắt tầm nhìn của từng loại điểm giao cắt đồng mức giữa đường sắt và đường bộ.”
4. Bổ sung
“Chương Va
PHƯƠNG TIỆN ĐỘNG LỰC CHUYÊN DÙNG ĐƯỜNG SẮT
Điều 38a. Phương tiện động lực chuyên dùng đường sắt
1. Phương tiện động lực chuyên dùng đường sắt bao gồm:
a) Các phương tiện động lực chuyên dùng di chuyển trên đường sắt dùng để vận chuyển người và vật tư, thiết bị phục vụ công tác chuyên ngành của ngành Đường sắt.
b) Các phương tiện động lực chuyên dùng di chuyển trên đường sắt dùng để cứu viện, cứu hộ tai nạn giao thông đường sắt; để kiểm tra, thi công, bảo dưỡng, sửa chữa công trình đường sắt và phục vụ quốc phòng, an ninh.
2. Trang thiết bị trên phương tiện động lực chuyên dùng đường sắt:
a) Các phương tiện động lực chuyên dùng di chuyển trên đường sắt dùng để vận chuyển người và vật tư, thiết bị phục vụ công tác chuyên ngành của ngành đường sắt khi khai thác, vận dụng trên đường sắt phải tuân theo các quy định tại Điều 43 Luật Đường sắt.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02 tháng 3 năm 2012.
1. Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
- 1Nghị định 109/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Đường sắt
- 2Văn bản hợp nhất 02/VBHN-BGTVT năm 2013 hợp nhất Nghị định hướng dẫn Luật đường sắt do Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 3Nghị định 14/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đường sắt
- 4Quyết định 2505/QĐ-BGTVT năm 2015 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật về giao thông vận tải hết hiệu lực thi hành 06 tháng đầu năm 2015 do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 1Luật Đường sắt 2005
- 2Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 3Thông tư 34/2012/TT-BGTVT quy định danh mục, biện pháp bảo đảm an toàn đối với phương tiện động lực chuyên dùng khi khai thác, vận dụng trên đường sắt không bắt buộc phải có thiết bị ghi tốc độ và thông tin liên quan đến việc điều hành chạy tàu (hộp đen) do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
Nghị định 03/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 109/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đường sắt
- Số hiệu: 03/2012/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 19/01/2012
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 139 đến số 140
- Ngày hiệu lực: 02/03/2012
- Ngày hết hiệu lực: 15/04/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
