Luật Thuế Lợi tức sửa đổi 1993 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế lợi tức trước đó, tập trung vào việc hoàn thiện các quy định về doanh thu tính thuế, biểu thuế suất áp dụng cho từng ngành nghề, chính sách ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế và các biện pháp chế tài hành chính trong lĩnh vực thuế. Văn bản này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, các hộ kinh doanh tư nhân, tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh và doanh nghiệp Nhà nước có phát sinh lợi tức chịu thuế trên lãnh thổ Việt Nam.
Dưới đây là các nội dung sửa đổi, bổ sung cốt lõi của Luật Thuế Lợi tức sửa đổi 1993:
1. Xác định doanh thu để tính lợi tức chịu thuế
- Doanh thu làm căn cứ tính lợi tức chịu thuế được quy định rõ ràng là toàn bộ số tiền thu được từ hoạt động bán hàng, tiền gia công và tiền cung ứng dịch vụ của cơ sở kinh doanh.
2. Biểu thuế suất thuế lợi tức ổn định theo ngành nghề
Các tổ chức, cá nhân kinh doanh (ngoại trừ đối tượng là hộ kinh doanh nhỏ và hộ buôn chuyến) thực hiện nộp thuế lợi tức theo mức thuế suất ổn định tính trên lợi tức chịu thuế cả năm, cụ thể theo từng nhóm ngành như sau:
- Mức thuế suất 25%: Áp dụng đối với các ngành công nghiệp nặng, hạ tầng và khai thác bao gồm điện năng; khai thác mỏ, khoáng sản, lâm sản và thủy sản; luyện kim; cơ khí; hóa chất cơ bản; phân bón; thuốc trừ sâu; vật liệu xây dựng; xây dựng và vận tải.
- Mức thuế suất 35%: Áp dụng đối với ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm và các hoạt động sản xuất khác.
- Mức thuế suất 45%: Áp dụng đối với ngành thương nghiệp, hoạt động ăn uống và các loại hình dịch vụ khác.
3. Quy định về thuế lợi tức bổ sung
Luật bổ sung quy định điều tiết thu nhập đối với các trường hợp có lợi tức cao do lợi thế khách quan hoặc quy mô lớn:
- Đối với hộ kinh doanh tư nhân và các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh: Nếu lợi tức chịu thuế bình quân tháng tính theo đầu người góp vốn vượt trên 10 triệu đồng, thì ngoài việc nộp thuế theo mức cơ bản, phải nộp thêm thuế lợi tức bổ sung với thuế suất 25% đối với phần lợi tức vượt trên 10 triệu đồng đó.
- Đối với doanh nghiệp Nhà nước: Trường hợp doanh nghiệp có lợi tức chịu thuế cao xuất phát từ các lợi thế khách quan, sau khi đã nộp thuế lợi tức theo thuế suất quy định và trích lập các quỹ theo luật định, phần lợi tức còn lại phải chịu thuế lợi tức bổ sung với mức thuế suất không quá 50%. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết mức thuế suất bổ sung cụ thể cho từng ngành nghề.
4. Chính sách khuyến khích đầu tư và chuyển lỗ
Nhằm thúc đẩy sản xuất và hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn, Luật đưa ra các chính sách ưu đãi tài chính quan trọng:
- Ưu đãi đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu: Các cơ sở sản xuất và ngành nghề được khuyến khích đầu tư, nếu thực hiện đầu tư mở rộng quy mô hoặc đầu tư chiều sâu mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn trước, sẽ được giảm thuế lợi tức tương ứng với mức vốn đầu tư đã bỏ ra. Mức giảm tối đa không quá 50% số thuế lợi tức phải nộp trong năm và không được vượt quá số lợi tức tăng thêm của năm tiếp theo do hoạt động đầu tư đó mang lại.
- Chính sách chuyển lỗ: Các tổ chức sản xuất kinh doanh bị lỗ do các nguyên nhân khách quan được phép chuyển số lỗ sang năm sau để khấu trừ khi tính thuế lợi tức. Thời gian cho phép chuyển lỗ tối đa không quá 2 năm.
5. Miễn, giảm thuế lợi tức cho cơ sở mới thành lập và vùng khó khăn
- Cơ sở sản xuất mới thành lập: Được miễn hoàn toàn thuế lợi tức trong 2 năm đầu tiên kể từ khi bắt đầu có lợi tức chịu thuế, và được giảm 50% số thuế phải nộp trong 2 năm tiếp theo.
- Cơ sở sản xuất mới tại vùng khó khăn: Ngoài thời gian miễn giảm như cơ sở mới thông thường, thời gian được giảm 50% thuế lợi tức sẽ được kéo dài thêm 2 năm nữa (tổng cộng là 2 năm miễn và 4 năm giảm 50%).
- Cơ sở đang hoạt động tại vùng khó khăn: Được xem xét giảm thuế lợi tức với mức giảm tối đa 50% trong thời gian không quá 2 năm. Chính phủ có thẩm quyền quy định chi tiết danh mục các vùng có khó khăn để áp dụng chính sách này.
6. Chế tài xử lý vi phạm chậm nộp thuế
- Đối với các tổ chức, cá nhân chậm nộp tiền thuế hoặc tiền phạt theo lệnh thu thuế hoặc quyết định xử phạt, bên cạnh việc phải nộp đủ số tiền thuế hoặc tiền phạt theo quy định, mỗi ngày nộp chậm sẽ bị phạt thêm 0,2% (hai phần nghìn) tính trên tổng số tiền chậm nộp.
7. Điều chỉnh thuật ngữ pháp lý và thẩm quyền ban hành
- Luật thực hiện chuẩn hóa các thuật ngữ pháp lý trong toàn bộ văn bản: Thay thế cụm từ "Hội đồng Nhà nước" bằng "Uỷ ban thường vụ Quốc hội" và thay thế cụm từ "Hội đồng Bộ trưởng" bằng "Chính phủ" để phù hợp với Hiến pháp mới.
- Chính phủ có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế lợi tức đã ban hành trước đó để đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ với Luật này.
Hiệu lực thi hành
Luật Thuế Lợi tức sửa đổi 1993 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 9 năm 1993.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 19-L/CTN | Hà Nội, ngày 06 tháng 7 năm 1993 |
LUẬT
SỐ 19-L/CTN NGÀY 06/07/1993 CỦA QUỐC HỘI VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ LỢI TỨC
Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế lợi tức được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế lợi tức như sau:
1/ Đoạn 1, Điều 8 được sửa đổi:
"Doanh thu để tính lợi tức chịu thuế là toàn bộ số tiền bán hàng, tiền gia công, tiền dịch vụ thu được."
2/ Điều 10 được sửa đổi, bổ sung:
"Điều 10 - Tổ chức, cá nhân kinh doanh (trừ hộ kinh doanh nhỏ, hộ buôn chuyến) nộp thuế lợi tức theo thuế suất ổn định trên lợi tức chịu thuế cả năm quy định sau đây:
1- Các ngành: điện năng; khai thác mỏ, khoáng sản, lâm sản và thuỷ sản; luyện kim; cơ khí; hoá chất cơ bản; phân bón; thuốc trừ sâu; vật liệu xây dựng; xây dựng và vận tải: 25%.
2- Các ngành: công nghiệp nhẹ; công nghiệp thực phẩm và sản xuất khác: 35%.
3- Thương nghiệp; ăn uống và dịch vụ các loại: 45%.
Các hộ kinh doanh tư nhân, các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh có lợi tức chịu thuế tính theo đầu người góp vốn, nếu lợi tức chịu thuế bình quân tháng lớn hơn 10 triệu đồng, thì ngoài việc nộp thuế theo mức cơ bản còn phải nộp thuế lợi tức bổ sung 25% trên phần lợi tức vượt trên 10 triệu đồng.
Doanh nghiệp Nhà nước nếu có lợi tức chịu thuế cao do lợi thế khách quan, thì ngoài việc phải nộp thuế lợi tức theo thuế suất quy định tại Điều này, phần lợi tức còn lại sau khi được phép trích lập các quỹ theo quy định của Pháp luật, phải nộp thuế lợi tức bổ sung không quá 50% số lợi tức còn lại. Chính phủ quy định chi tiết thuế suất thuế lợi tức bổ sung đối với từng ngành nghề."
3/ Điều 22 được sửa đổi, bổ sung:
"Điều 22 - Cơ sở sản xuất và một số ngành nghề khác cần khuyến khích đầu tư, nếu có đầu tư mở rộng sản xuất hoặc đầu tư chiều sâu mà đem lại hiệu quả cao hơn so với trước thì được giảm thuế lợi tức theo mức vốn đầu tư bỏ ra, nhưng tối đa không quá 50% số thuế lợi tức phải nộp cả năm và không vượt quá số lợi tức tăng thêm của năm tiếp theo do đầu tư mang lại. "
4/ Điều 23 được sửa đổi, bổ sung:
"Điều 23 - Tổ chức sản xuất kinh doanh do nguyên nhân khách quan mà bị lỗ, thì được chuyển số lỗ sang năm sau khi tính thuế lợi tức. Thời gian được chuyển lỗ để tính thuế lợi tức không quá 2 năm."
5/ Điều 25 được sửa đổi, bổ sung:
"Điều 25 - Cơ sở sản xuất mới thành lập được miễn thuế lợi tức 2 năm đầu, kể từ khi có lợi tức và được giảm 50% thuế lợi tức trong 2 năm tiếp theo; riêng cơ sở sản xuất mới thành lập ở các vùng có khó khăn, thì thời gian giảm thuế được kéo dài thêm 2 năm nữa.
Cơ sở đang sản xuất ở các vùng có khó khăn được giảm thuế lợi tức tối đa 50%, thời gian giảm thuế không quá 2 năm.
Chính phủ quy định cụ thể vùng có khó khăn nói tại Điều này."
6/ Điểm c, Khoản 1, Điều 27 được sửa đổi:
"c) Tổ chức, cá nhân nộp chậm tiền thuế hoặc tiền phạt ghi trong lệnh thu thuế hoặc quyết định xử phạt, thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế hoặc tiền phạt theo quy định của Luật này, mỗi ngày nộp chậm còn bị phạt 0,2% (hai phần nghìn) số tiền nộp chậm;"
Chính phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật thuế lợi tức đã ban hành cho phù hợp với Luật này.
Luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 9 năm 1993.
| Lê Đức Anh (Đã ký) |
Luật Thuế Lợi tức sửa đổi 1993
- Số hiệu: 19-L/CTN
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 06/07/1993
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Lê Đức Anh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 20
- Ngày hiệu lực: 01/09/1993
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
