Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội sửa đổi 2001 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều quan trọng của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, tập trung vào việc chuẩn hóa tiêu chuẩn đại biểu, cơ cấu tổ chức, quy trình hiệp thương và các mốc thời gian chuẩn bị cho công tác bầu cử đại biểu Quốc hội tại Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản quy định về các hoạt động liên quan đến công tác chuẩn bị, tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, áp dụng đối với công dân Việt Nam có quyền bầu cử và ứng cử; các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân ở trung ương và địa phương; cùng các tổ chức phụ trách bầu cử trên cả nước.
Tiêu chuẩn và số lượng đại biểu Quốc hội
- Tiêu chuẩn đại biểu: Người ứng cử phải trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Số lượng đại biểu: Tổng số đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được khống chế tối đa không quá năm trăm người.
Quy trình dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ đại biểu
- Dự kiến cơ cấu: Chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban thường vụ Quốc hội tiến hành dự kiến về cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội và số lượng đại biểu được bầu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương. Việc này được thực hiện sau khi trao đổi ý kiến với Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đại diện các tổ chức chính trị - xã hội.
- Đại biểu là phụ nữ: Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến số lượng đại biểu Quốc hội là phụ nữ trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm tỷ lệ thích đáng cho phụ nữ.
- Phân bổ đại biểu: Trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban thường vụ Quốc hội và tiêu chuẩn đại biểu, các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được phân bổ số lượng đại biểu tiến hành giới thiệu người ứng cử.
Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử
- Hội đồng bầu cử ở trung ương: Được Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày bầu cử. Hội đồng gồm từ mười lăm đến hai mươi mốt người, bao gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các ủy viên đại diện cho Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan hữu quan.
- Ủy ban bầu cử ở cấp tỉnh: Được Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước ngày bầu cử (sau khi thống nhất với Ủy ban nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp). Ủy ban gồm từ bảy đến mười một người, bao gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các ủy viên.
Quy định về quyền bầu cử và lập danh sách cử tri
- Trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri: Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang bị tạm giam; và người mất năng lực hành vi dân sự.
- Khôi phục quyền bầu cử: Nếu trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ, những người thuộc diện không được ghi tên nêu trên được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì sẽ được bổ sung vào danh sách cử tri và phát thẻ cử tri.
- Xóa tên khỏi danh sách cử tri: Người đã có tên trong danh sách cử tri nhưng đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Tòa án tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù, bị bắt tạm giam hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì sẽ bị Ủy ban nhân dân cấp xã xóa tên và thu hồi thẻ cử tri.
Hồ sơ ứng cử và các trường hợp không được ứng cử
- Hồ sơ ứng cử: Người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử phải nộp hồ sơ chậm nhất là sáu mươi lăm ngày trước ngày bầu cử. Hồ sơ gồm có: Đơn xin ứng cử; Sơ yếu lý lịch có chứng nhận của cơ quan, tổ chức nơi công tác hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú; Tiểu sử tóm tắt và ba ảnh màu cỡ 4 cm x 6 cm.
- Trường hợp không được ứng cử: Người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính về giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành chính.
- Xóa tên người ứng cử: Người đã có tên trong danh sách ứng cử nhưng đến thời điểm bắt đầu bầu cử bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì sẽ bị Hội đồng bầu cử xóa tên khỏi danh sách ứng cử.
Quy trình hiệp thương và lựa chọn người ứng cử
- Hiệp thương lần thứ nhất: Diễn ra chậm nhất là tám mươi lăm ngày trước ngày bầu cử ở cả cấp trung ương và cấp tỉnh nhằm thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người được bầu làm đại biểu Quốc hội của các cơ quan, tổ chức, đơn vị.
- Điều chỉnh lần thứ nhất: Chậm nhất là tám mươi ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện điều chỉnh lần thứ nhất về cơ cấu, thành phần, số lượng người được phân bổ.
- Hiệp thương lần thứ hai: Diễn ra chậm nhất là sáu mươi ngày trước ngày bầu cử nhằm lập danh sách sơ bộ những người ứng cử và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú (và nơi làm việc đối với người tự ứng cử).
- Điều chỉnh lần thứ hai: Chậm nhất là năm mươi ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện điều chỉnh lần thứ hai về cơ cấu, thành phần, số lượng người được phân bổ.
- Hiệp thương lần thứ ba: Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp trung ương và cấp tỉnh tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ ba để lựa chọn, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội dựa trên tiêu chuẩn, cơ cấu đã điều chỉnh lần hai và kết quả lấy ý kiến cử tri.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo và ấn định ngày bầu cử
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo: Luật bổ sung quy định không xem xét, giải quyết đối với các đơn tố cáo nặc danh. Đối với các khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết xong, Hội đồng bầu cử có trách nhiệm chuyển toàn bộ hồ sơ đến Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa mới để tiếp tục giải quyết theo thẩm quyền.
- Ấn định ngày bầu cử: Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, do Ủy ban thường vụ Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày bầu cử.
Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội sửa đổi 2001 có hiệu lực thi hành kể từ ngày công bố. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành chi tiết các quy định của Luật này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 31/2001/QH10 | Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2001 |
LUẬT
CỦA QUỐC HỘI 31/2001/QH10 NGÀY 25 THÁNG 12 NĂM 2001 VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1997.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội:
1- Điểm 1
"1- Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;"
2-
"1- Tổng số đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không quá năm trăm người."
3-
"Điều 9
Căn cứ vào số lượng đại biểu Quốc hội quy định tại Điều 8 của Luật này, căn cứ vào nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, để bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong Quốc hội, sau khi trao đổi ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đại diện các tổ chức chính trị - xã hội, chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến về:
1- Cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội;
2- Số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương".
"Điều 10a
Số đại biểu Quốc hội là phụ nữ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm để phụ nữ có số đại biểu thích đáng."
5- Đoạn thứ nhất của
"Chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Hội đồng bầu cử từ mười lăm đến hai mươi mốt người, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các uỷ viên là đại diện Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một số cơ quan, tổ chức hữu quan."
6- Đoạn thứ nhất của
"Chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Uỷ ban bầu cử từ bảy đến mười một người, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các uỷ viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu quan."
7-
"Điều 23
1- Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri.
2- Người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri.
3- Người đã có tên trong danh sách cử tri mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Toà án tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù, bị bắt tạm giam hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xoá tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri."
8-
"1- Công dân ứng cử đại biểu Quốc hội (người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử) theo quy định của Luật này phải nộp hồ sơ ứng cử chậm nhất là sáu mươi lăm ngày trước ngày bầu cử.
Hồ sơ ứng cử gồm:
a) Đơn xin ứng cử;
b) Sơ yếu lý lịch có chứng nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó công tác hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó thường trú;
c) Tiểu sử tóm tắt và ba ảnh màu cỡ 4 cm x 6 cm."
9- Điểm 5
"5- Người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính về giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành chính.
Những người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu bầu cử bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì Hội đồng bầu cử xoá tên trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội."
10- Đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai của
"Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở trung ương do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là tám mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, thành phần gồm Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện Ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận.
Hội nghị hiệp thương thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương được bầu làm đại biểu Quốc hội trên cơ sở dự kiến do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi đến. Đại diện Hội đồng bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ được mời dự Hội nghị này."
11- Đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai của
"Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức chậm nhất là tám mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, thành phần gồm Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, đại diện Ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc và đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Hội nghị hiệp thương thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được bầu làm đại biểu Quốc hội trên cơ sở dự kiến do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi đến. Đại diện Uỷ ban bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được mời dự Hội nghị này."
12-
"Điều 32
Căn cứ vào kết quả hiệp thương lần thứ nhất quy định tại các điều 30 và 31 của Luật này, chậm nhất là tám mươi ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được bầu làm đại biểu Quốc hội."
13-
"Điều 33
Trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được phân bổ số lượng đại biểu tiến hành giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội."
14- Đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai của
"Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở trung ương do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là sáu mươi ngày trước ngày bầu cử, thành phần Hội nghị như quy định tại Điều 30 của Luật này.
Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú."
15- Đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai của
"Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức chậm nhất là sáu mươi ngày trước ngày bầu cử, thành phần Hội nghị như quy định tại Điều 31 của Luật này.
Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú; đối với người tự ứng cử thì còn được gửi lấy ý kiến cử tri nơi người đó làm việc (nếu có)."
16-
"Điều 41
Căn cứ vào kết quả hiệp thương lần thứ hai quy định tại các điều 37 và 38 của Luật này, chậm nhất là năm mươi ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được bầu làm đại biểu Quốc hội."
17- Đoạn thứ hai của
"Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai và kết quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội."
18- Đoạn thứ hai của
"Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai và kết quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội."
19-
"3- Không xem xét, giải quyết đối với những đơn tố cáo nặc danh.
4- Hội đồng bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền."
20- Đoạn thứ hai của
"Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày bầu cử."
1- Luật này có hiệu lực từ ngày công bố.
2- Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam hướng dẫn thi hành Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 12 năm 2001.
| Nguyễn Văn An (Đã ký) |
- 1Chỉ thị 02/2007/CT-TTg về việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XII do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Nghị quyết số 285/2002/NQ-UBTVQH10 về việc ban hành hướng dẫn một số điểm về việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XI do Ủy ban thường vụ Quốc Hội ban hành
- 3Nghị quyết số 283/NQ-UBTVQH-ĐCTMTTQVN về việc tổ chức hội nghị lấy ý kiến của cử tri nơi công tác và nơi cư trú về những người ứng cử đại biểu Quốc hội do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 4Nghị quyết số 282/NQ-UBTVQH-ĐCTUBMTTQVN về việc ban hành quy trình hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Uỷ ban Thể dục Thể thao ban hành
- 5Nghị quyết số 01a/2007/QH12 về việc xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội của các đại biểu Quốc hội khóa XII do Quốc hội ban hành
- 6Lệnh công bố Luật bầu cử đại biểu Quốc hội sửa đổi năm 2001
- 7Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân sửa đổi 2010
- 8Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015
- 1Chỉ thị 02/2007/CT-TTg về việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XII do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Nghị quyết số 285/2002/NQ-UBTVQH10 về việc ban hành hướng dẫn một số điểm về việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XI do Ủy ban thường vụ Quốc Hội ban hành
- 4Nghị quyết số 283/NQ-UBTVQH-ĐCTMTTQVN về việc tổ chức hội nghị lấy ý kiến của cử tri nơi công tác và nơi cư trú về những người ứng cử đại biểu Quốc hội do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 5Nghị quyết số 282/NQ-UBTVQH-ĐCTUBMTTQVN về việc ban hành quy trình hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Uỷ ban Thể dục Thể thao ban hành
- 6Nghị quyết số 01a/2007/QH12 về việc xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội của các đại biểu Quốc hội khóa XII do Quốc hội ban hành
- 7Lệnh công bố Luật bầu cử đại biểu Quốc hội sửa đổi năm 2001
- 8Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân sửa đổi 2010
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội sửa đổi 2001
- Số hiệu: 31/2001/QH10
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 25/12/2001
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Văn An
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 9 đến số 10
- Ngày hiệu lực: 07/01/2002
- Ngày hết hiệu lực: 01/09/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
