Lệnh công bố Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 do Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành nhằm công bố Pháp lệnh trọng tài thương mại đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua ngày 25 tháng 02 năm 2003. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc giải quyết các tranh chấp thương mại bằng phương thức trọng tài tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy môi trường đầu tư và kinh doanh lành mạnh trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào hoạt động thương mại tại Việt Nam có phát sinh tranh chấp và lựa chọn phương thức trọng tài để giải quyết tranh chấp đó.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài (Điều 1)
- Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài.
- Hoạt động thương mại được xác định bao gồm các hành vi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, li-xăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò và khai thác nhằm mục đích sinh lợi.
2. Giải thích từ ngữ pháp lý cốt lõi (Điều 2)
- Trọng tài viên là người có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, được các bên chọn hoặc được Trung tâm trọng tài hoặc Tòa án chỉ định để giải quyết tranh chấp.
- Thỏa thuận trọng tài là sự nhất trí giữa các bên về việc đưa các tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại ra giải quyết bằng Trọng tài.
- Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ tranh chấp cụ thể và tự giải thể khi vụ tranh chấp đó được giải quyết xong.
- Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, được thành lập để tổ chức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài theo quy định.
3. Các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp (Điều 3)
- Tôn trọng thỏa thuận của các bên, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
- Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp.
- Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác nhằm bảo mật thông tin kinh doanh.
- Quyết định trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
4. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài (Điều 4)
- Vụ tranh chấp chỉ được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.
- Thỏa thuận trọng tài phải được lập dưới dạng văn bản. Các hình thức thỏa thuận qua thư từ, điện tín, telex, fax, thư điện tử hoặc các hình thức thông tin điện tử khác chứng minh được sự thỏa thuận của các bên cũng được coi là thỏa thuận bằng văn bản.
Hiệu lực thi hành
Lệnh công bố của Chủ tịch nước có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2003, thay thế cho các quy định trước đây về trọng tài kinh tế trái với Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 08/2003/L-CTN | Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2003 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 19 của Luật Tổ chức Quốc hội,
Căn cứ vào Điều 51 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Pháp lệnh Trọng tài thương mại.
Đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI thông qua ngày 25 tháng 02 năm 2003./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 4Luật Tổ chức Quốc hội 2001
- 5Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002
- 6Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003
Lệnh công bố Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
- Số hiệu: 08/2003/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 10/03/2003
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 24
- Ngày hiệu lực: 10/03/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
