- Phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định chi tiết về nguyên tắc, thời điểm, trình tự, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm thực hiện đặc xá; đồng thời quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người được đề nghị đặc xá và người được đặc xá.
- Đối tượng áp dụng: Áp dụng đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù; các cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có liên quan đến hoạt động đặc xá.
Để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất, khách quan và chính xác, văn bản đưa ra các định nghĩa pháp lý quan trọng bao gồm:
- Đặc xá: Được định nghĩa là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt.
- Quyết định đặc xá: Là văn bản do Chủ tịch nước ban hành để quyết định đặc xá cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại hoặc ngày lễ lớn của đất nước.
- Quyết định về đặc xá: Là văn bản do Chủ tịch nước ban hành để quyết định đặc xá cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân trong trường hợp đặc biệt để đáp ứng yêu cầu đối nội, đối ngoại của Nhà nước mà không cần đợi đến sự kiện trọng đại hay ngày lễ lớn.
Hoạt động đặc xá phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc mang tính hiến định và pháp lý nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, sự công bằng xã hội và tính nhân đạo của chế độ:
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật: Mọi quy trình, thủ tục xét duyệt đặc xá phải được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự theo các quy định của Hiến pháp và Luật đặc xá, không được tự ý thay đổi hoặc áp dụng sai lệch dưới bất kỳ hình thức nào.
- Bảo đảm dân chủ, khoa học, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch: Việc xét duyệt đối tượng được đặc xá phải được tiến hành công khai từ cơ sở giam giữ, có sự tham gia giám sát chặt chẽ của các cơ quan chức năng và xã hội, bảo đảm đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn, tuyệt đối không để xảy ra tiêu cực, thiên vị, trục lợi hay bỏ sót người đủ điều kiện.
- Bảo đảm yêu cầu đối nội, đối ngoại, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội: Việc đặc xá không chỉ mang ý nghĩa nhân đạo mà còn phải cân nhắc kỹ lưỡng đến yếu tố an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm người được đặc xá không gây nguy hại cho cộng đồng và phù hợp với các cam kết, quan hệ đối ngoại của quốc gia.
Lệnh công bố Luật đặc xá 2007 có hiệu lực thi hành cùng thời điểm với Luật đặc xá số 07/2007/QH12, bắt đầu phát sinh hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 03 năm 2008.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 16/2007/L-CTN | Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2007 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ Điều 91 của Luật tổ chức Quốc hội;
Căn cứ Điều 50 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Luật đặc xá.
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007./.
|
| CHỦ TỊCH |
Lệnh công bố Luật đặc xá 2007
- Số hiệu: 16/2007/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 05/12/2007
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Nguyễn Minh Triết
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 37 đến số 38
- Ngày hiệu lực: 05/12/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
