Công văn về việc xử lý nhập khẩu bộ linh kiện xe hai bánh gắn máy (chưa rõ số hiệu, cơ quan và ngày ban hành) tập trung hướng dẫn các biện pháp nghiệp vụ, quy trình kiểm tra và xử lý đối với hoạt động nhập khẩu bộ linh kiện xe hai bánh gắn máy vào Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan hải quan, cơ quan đăng kiểm, các doanh nghiệp thực hiện hoạt động nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp xe hai bánh gắn máy, cùng các tổ chức và cá nhân có liên quan trực tiếp đến việc quản lý và lưu thông mặt hàng này trên thị trường.
Nội dung cốt lõi của Phần mở đầu và các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
- Phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc áp dụng (Điều 1): Xác định giới hạn pháp lý của văn bản trong việc điều chỉnh các hành vi nhập khẩu bộ linh kiện xe hai bánh gắn máy. Quy định rõ việc nhập khẩu phải tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia và các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
- Đối tượng áp dụng và giải thích từ ngữ (Điều 2): Định nghĩa cụ thể thế nào là "bộ linh kiện xe hai bánh gắn máy", mức độ rời rạc của linh kiện nhập khẩu để làm cơ sở phân biệt giữa linh kiện đơn lẻ và bộ linh kiện đồng bộ, tránh việc gian lận thuế quan hoặc trốn tránh các hàng rào kỹ thuật.
- Điều kiện nhập khẩu và tiêu chuẩn kỹ thuật (Điều 3): Thiết lập các điều kiện bắt buộc đối với doanh nghiệp nhập khẩu, bao gồm năng lực sản xuất, lắp ráp hoặc hợp đồng liên kết hợp pháp. Các bộ linh kiện khi nhập khẩu phải có đầy đủ chứng nhận xuất xứ, chứng nhận chất lượng và phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn chất lượng và bảo vệ môi trường.
- Quy trình kiểm tra, giám sát hải quan và đăng kiểm (Điều 4): Quy định sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan hải quan và cơ quan đăng kiểm trong việc kiểm tra thực tế hàng hóa. Các lô hàng chỉ được thông quan sau khi có kết quả kiểm tra đạt yêu cầu của cơ quan đăng kiểm chuyên ngành, đồng thời xác định rõ quy trình xử lý đối với các trường hợp linh kiện không đạt chuẩn hoặc không đồng bộ theo khai báo.
Hiệu lực thi hành
Hiện tại, các thông tin về ngày ban hành, ngày có hiệu lực cũng như tình trạng hiệu lực cụ thể của văn bản này chưa được xác định. Các đơn vị thực hiện cần đối chiếu với các quy định pháp luật chuyên ngành hiện hành về quản lý chất lượng linh kiện xe cơ giới để đảm bảo tính tuân thủ cao nhất.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1184/CP-KTTH | Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2001 |
| Kính gửi:
| - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, |
Căn cứ đề nghị của Bộ Công nghiệp tại Công văn số 5440/CV-CNCL ngày 20 tháng 12 năm 2001 và của Tổng cục Hải quan tại công văn số 5942/TCHQ-GSCL ngày 27 tháng 12 năm 2001 về việc cho phép các doanh nghiệp nêu trong công văn ngày 17 tháng 12 năm 2001 của Bộ Công nghiệp được làm thủ tục nhập khẩu bộ linh kiện xe gắn máy nếu đã mở L/C và do có nhiều đơn khiếu nại gửi đến Thủ tướng Chính phủ, nên Thủ tướng Chính phủ đã giao Văn phòng Chính phủ mời lãnh dạo các Bộ: Công nghiệp, Tài chính, Thương mại, Công an và Tổng cục Hải quan họp ngày 28 tháng 12 năm 2001 để trao đổi ý kiến xử lý vấn đề này cùng với một số tồn tại trong điều hành nhập khẩu linh kiện xe hai bánh gắn máy theo công văn 983/CP-KTTH ngày 18 tháng 10 năm 2001. Hội nghị đã đi đến kết luận và kiến nghị như sau:
1. Đối với các doanh nghiệp thuộc danh sách mà Bộ Công nghiệp thông báo không được tiếp tục nhập khẩu linh kiện xe hai bánh gắn máy (công văn số 5366/CV-CNCL ngày 17 tháng 12 năm 2001), nếu đã mở L/C thanh toán qua ngân hàng từ 17 tháng 12 trở về trước thì cơ quan Hải quan kiểm tra và chỉ cho phép nhập khẩu số linh kiện thực tế đã mở L/C với các điều kiện:
a) Doanh nghiệp không còn nợ thuế nhập khẩu linh kiện xe hai bánh gắn máy;
b) L/C phải được ngân hàng xác nhận đã mở từ ngày 17 tháng 12 năm 2001 trở về trước (trường hợp cá biệt L/C mở trong vòng 3 ngày sau thời hạn ngày 17 tháng 12 năm 2001 do chưa nhận được thông báo của Bộ Công nghiệp thì phải có báo cáo để xem xét, giải quyết từng tường hợp);
c) Doanh nghiệp phải nộp thuế nhập khẩu với mức thuế suất là 60% tính trên toàn bộ số linh kiện nhập khẩu nói trên theo quy định tại điểm 2 công văn số 1131/CP-KTTH ngày 12 tháng 12 năm 2001 của Chính phủ.
2. Đối với các đơn vị sản xuất lắp ráp xe gắn máy ngoài số 23 đơn vị nêu trên, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao cho Tổ Công tác liên ngành do Bộ Tài chính chủ trì (như nêu tại điểm b, khoản 5, mục I của công văn 938/CP-KTTH ngày 18 tháng 10 năm 2001) kiểm tra việc thực hiện những quy định về sản xuất phụ tùng chủ yếu và phát hiện các gian lận thương mại để kịp thời có biện pháp xử lý nghiêm minh.
3. Bộ Công nghiệp lập bảng kê đầy đủ, chính xác và thông báo ngay cho Tổng cục Hải quan về công suất lắp ráp xe hai bánh gắn máy của các doanh nghiệp đã đăng ký trước ngày 28 tháng 11 năm 2000 được ghi tại các biên bản kiểm tra liên ngành về điều kiện kỹ thuật của dây chuyền lắp ráp dạng IKD của các Bộ: Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Công nghiệp và Giao thông vận tải (đối với những trường hợp chưa ghi nhận trong biên bản kiểm tra liên ngành thì lấy theo công suất ghi trong luận chứng kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp đã được Bộ Công nghiệp phê duyệt).
Căn cứ vào thông báo của Bộ Công nghiệp, Tổng cục Hải quan xử lý truy thu thuế nhập khẩu đối với những trường hợp nhập khẩu linh kiện xe hai bánh gắn máy vượt công suất quy định tại điểm 5, mục III công văn số 938/CP-KTTH ngày 18 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ.
Đề tránh thiệt hại chung, đồng thời giữ đúng các quy định hiện hành, Thủ tướng Chính phủ chấp nhận các kết luận và kiến nghị nêu trên của cuộc họp liên ngành. Yêu cầu các cơ quan liên quan thực hiện.
|
| Nguyễn Mạnh Cầm (Đã ký) |
Công văn về việc xử lý nhập khẩu bộ linh kiện xe hai bánh gắn máy
- Số hiệu: 1184/CP-KTTH
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 29/12/2001
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Mạnh Cầm
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 29/12/2001
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
