Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 653/2025/DS-PT

Ngày: 14/11/2025.

V/v: Tranh chấp về tiền đặt cọc

theo thỏa thuận mua bán lúa.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Thư

Các Thẩm phán: 1/ Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan

2/ Bà Phan Thị Tuyết Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 265/2025/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp về tiền đặt cọc theo thỏa thuận mua bán lúa".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 625/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Mai Thanh T, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Ấp G, xã H (trước đây là ấp G, xã H, huyện T), tỉnh Vĩnh Long; Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Vũ P, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Ấp D, xã X, thành phố Cần Thơ (trước đây là ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang); Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Trung N, sinh năm 1976; Địa chỉ: Ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau (trước đây là ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu); Vắng mặt.

* Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Vũ P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Mai Thanh T (gọi tắt là ông T) trình bày:

Vào ngày 28/01/2022 (dương lịch) nhằm ngày 16/12/2021 (âm lịch), ông Mai Thanh T (nguyên đơn) có mua của ông Nguyễn Vũ P (bị đơn) 300 tấn lúa, loại lúa Đ, với giá là 5.600 đồng/kg tại ruộng, ông T có đặt cọc số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng). Do ông P không có tài khoản Ngân hàng nên đưa số tài khoản của con là Nguyễn Vũ N1 cho ông T chuyển số tiền đặt cọc nêu trên. Hai bên thỏa thuận: đến ngày 12, 13/3/2022 (dl) nhằm ngày 10, 11/02/2022 (al) nhận lúa. Thỏa thuận mua bán lúa giữa hai bên được thực hiện qua điện thoại, giao dịch miệng không làm văn bản hay giấy tờ gì.

Đến ngày nhận lúa, ông P chỉ giao 70 tấn, số còn lại 230 tấn không giao. Sau đó, ông T yêu cầu “nếu không giao đủ lúa thì phải trả lại tiền cọc”; ông P hứa hẹn hoài mà không trả làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên đặt cọc nên ông T gửi đơn tố cáo đến Cơ quan điều tra Công an huyện L. Ngày 30/10/2024, khi được mời lên làm việc ông P có làm biên nhận thừa nhận có nhận số tiền 120.000.000 đồng và cam kết 10 ngày sẽ trả cho ông T 50.000.000 đồng, còn lại 70.000.000 đồng sẽ trả 02 lần trong vòng 06 tháng, nhưng đến hẹn 10 ngày ông P vẫn không thực hiện theo cam kết.

Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông P có nghĩa vụ trả cho ông T tiền gốc 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) và tính lãi suất 10%/năm từ ngày 28/01/2022 (dương lịch) đến nay.

* Quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Vũ P (gọi tắt là ông P) trình bày:

Bị đơn (ông Nguyễn Vũ P) thừa nhận: Năm 2022, ông có thỏa thuận mua bán lúa với ông Mai Thanh T (nguyên đơn) và đã nhận 120.000.000 đồng tiền cọc của ông T. Nhưng, cho rằng: ông P chỉ là người giới thiệu các chủ bán lúa cho ông T mua thôi, chứ không phải là người bán lúa; sau khi nhận tiền cọc của ông T, ông P đã chuyển khoản số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) cho ông Nguyễn Trung N là người sẽ bán lúa cho ông T và ông P có thông báo cho ông T “khi nào mua lúa của ông N và tính tiền thì hai bên trừ lại số tiền cọc trên”. Tuy nhiên, việc mua bán lúa giữa ông T – ông N xong, hai bên tính như thế nào ông P không rõ, cứ nghĩ là đã trừ cấn tiền cọc. Thế mà, khoảng 01 năm sau ông P mới biết ông T và ông N chưa trừ số tiền cọc này.

Ông P thừa nhận: Khi Công an huyện L mời lên làm việc, ông có viết Giấy cam kết trả tiền cọc cho ông T, lý do cam kết là do ông N hứa trả lại số tiền này cho ông P nên ông mới đồng ý cam kết trả nợ cho ông T.

Do đó, với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông không đồng ý vì ông đã chuyển khoản cho ông N nên ông Nghĩa L người có trách nhiệm trả tiền cọc lại cho ông T.

* Đối với ông Nguyễn Trung N (gọi tắt là ông N) đã được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ nhưng vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến của ông N về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không thể tiến hành tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với ông Nguyễn Trung N.

Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Trung N có mặt và trình bày như sau: Ông N thừa nhận có giao dịch bán lúa với ông Nguyễn Vũ P, thỏa thuận bán cho ông P 300 tấn lúa và có nhận 120.000.000 đồng tiền cọc lúa của ông P chuyển khoản; ông N không có giao dịch mua bán lúa với ông T. Tuy nhiên, đến khi cân lúa thì ông P có thông báo và giới thiệu: ông T là người mua lúa, cân lúa của ông N và trả tiền theo giá đã thỏa thuận; ông N đã giao cho ông T 170 tấn lúa, ông T đã trả đủ tiền nhưng do không giao đủ số lượng lúa như thỏa thuận ban đầu nên giữa ông N và ông T chưa trừ lại số tiền cọc. Sau đó, ông T có liên hệ đòi tiền cọc nhiều lần nhưng do không có khả năng nên ông N chưa trả cho ông T số tiền này.

Nay với việc khởi kiện của nguyên đơn, ông N đồng ý trả lại số tiền cọc 120.000.000 đồng cho ông T hoặc ông P theo quyết định của Tòa án, nhưng xin trả dần vì hiện tại đang khó khăn.

Tại bản án dân sự dân sự sơ thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ) đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Thanh T đối với bị đơn ông Nguyễn Vũ P về việc tranh chấp đòi lại tiền đặc cọc.
  2. Buộc ông Nguyễn Vũ P có nghĩa vụ trả cho ông Mai Thanh T số tiền 157.848.000 đồng (một trăm năm mươi bảy triệu tám trăm bốn mươi tám đồng). Trong đó vốn là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) và lãi là 37.848.000 đồng (ba mươi bảy triệu tám trăm bốn mươi tám đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 03/6/2025, bị đơn ông Nguyễn Vũ P yêu cầu cấp phúc thẩm buộc ông Nguyễn Trung N trả 120.000.000 đồng tiền cọc mua bán lúa cho ông Mai Thanh T và ông N phải chịu toàn bộ chi phí, án phí.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ và tình tiết, dữ kiện liên quan cho thấy: Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền gốc 120.000.000 đồng là có căn cứ; tuy nhiên, việc không xác định thời điểm chịu lãi như cam kết ngày 30/10/2024 là chưa phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử “Sửa án sơ thẩm” (một phần) theo hướng nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Vũ P trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.

[2] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn, của đương sự khác và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy: Nguyên đơn ông Mai Thanh T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Vũ P trả lại 120.000.000 đồng tiền đặt cọc mua lúa và lãi suất theo quy định; trong đó: bị đơn cư trú tại địa giới hành chính nên Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ) thụ lý giải quyết và xác định quan hệ pháp luật (có điều chỉnh về cụm từ sử dụng) là có căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo. Riêng, bị đơn ông Nguyễn Vũ P cho rằng: Vào ngày 28/01/2022, ông và ông Mai Thanh T có thỏa thuận việc mua bán lúa, ông T có chuyển khoản cho ông 120.000.000 đồng nhưng ông đã giao toàn bộ số tiền cho ông N, sau đó thì ông T đến nhận lúa từ ông N nên đương sự kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm buộc ông Nguyễn Trung N trả 120.000.000 đồng tiền cọc mua bán lúa cho ông Mai Thanh T và ông N phải chịu toàn bộ chi phí, án phí.

[4] Xét kháng cáo của đương sự:

Hội đồng xét xử xét thấy:

[4.1] Mặc dù, giao dịch mua bán lúa giữa ông T và ông P không lập thành văn bản, nhưng ông P đã thừa nhận: hai bên có thỏa thuận giao dịch mua bán lúa (thỏa thuận miệng: trao đổi qua điện thoại), ông P có nhận 120.000.000 đồng tiền cọc từ ông T chuyển thông qua vào tài khoản 7308205246193 chủ tài khoản Nguyễn Vũ N1 (con trai ông P), có thiết lập Cam kết bằng giấy tay đề ngày 30/10/2024 tại Công an huyện L (cũ) nên là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Dẫn chiếu Cam kết đề ngày 30/10/2024 thể hiện nội dung như sau:

Tôi tên Nguyễn Vũ P.

Tôi hứa tôi sẽ trả cho anh T: ngày 10/11/2024 dl trả cho anh T = 50.000.000₫ năm mươi triệu đồng, còn lại 70 triệu tôi trả 2 lần trong vòng 6 tháng sẽ đủ.

(Ký và ghi rõ họ tên lần lượt Nguyễn Vũ P, Mai Thanh T).

Ông P cho rằng: Khi Công an huyện L (cũ) mời lên làm việc, ông có viết giấy cam kết trả tiền cọc cho ông T, lý do cam kết là do ông N hứa trả lại số tiền này cho ông nên ông mới đồng ý cam kết trả nợ cho ông T. Tuy nhiên, trong nội dung cam kết không ghi nhận điều kiện kèm theo như ông P trình bày, góc độ nguyên đơn không thừa nhận nên không có cơ sở xem xét thỏa mãn đối với đơn

phương trình bày của bị đơn. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả tiền đặt cọc (tiền gốc) 120.000.000 đồng(1) là có căn cứ.

[4.2] Nguyên - bị đơn đều thống nhất tình tiết: 120.000.000 đồng là tiền đặt cọc liên quan đến thỏa thuận mua bán lúa. Đối chiếu pháp luật về đặt cọc, tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

  1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
  2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Nhưng, nguyên đơn khởi kiện không yêu cầu phạt cọc nên không đặt bồi thường khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc (nếu có) ra xem xét. Trong khi, vấn đề này không thuộc trường hợp tính lãi kể từ thời điểm giao tiền và thỏa thuận nhận lúa như nguyên đơn yêu cầu và cấp sơ thẩm xác định.

[4.3] Như vậy, căn cứ Cam kết ngày 30/10/2022 do ông P thiết lập, có sự thống nhất xác nhận của ông T được xem là sự tự nguyện cam kết, thỏa thuận của đương sự, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội thuộc về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Dân sự nên được công nhận và có hiệu lực thực hiện đối với các bên.

Theo đó, ông P hẹn ngày 10/11/2022 trả 50.000.000 đồng và 70.000.000 đồng trả 02 lần trong vòng 06 tháng nhưng không thực hiện và cho đến nay nên phải chịu lãi chậm thực hiện theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự. Trong đó, lãi suất được tính theo 02 mốc thời gian chịu lãi (với mức lãi suất 10%/năm tương ứng 0,83%/tháng như cấp sơ thẩm xác định là thỏa đáng). Cụ thể là:

  • Ngày 10/11/2022 đối với 50.000.000 đồng đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/5/2025) thành tiền lãi là:
  • 50.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 02 năm 06 tháng 12 ngày = 12.616.000 đồng(2).

  • Ngày 10/5/2022 (sau 06 tháng) đối với 70.000.000 đồng đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/5/2025) thành tiền lãi là:
  • 70.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 02 năm 12 ngày = 14.176.400 đồng(3).

Tổng cộng tiền lãi là: (2) + (3) = 26.792.400 đồng(4).

[4.4] Với những cơ sở đã nêu, kháng cáo của bị đơn có cơ sở chấp nhận một phần, cần thiết “Sửa bản án sơ thẩm” về mốc thời điểm chịu lãi. Buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền là: (1) + (4) = 146.792.000 đồng.

[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, dù đã được giải thích theo quy định của pháp luật nhưng nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu về thời điểm chịu lãi tính từ ngày giao tiền và thỏa thuận giao lúa (ngày 13/3/2022) như cấp sơ thẩm đã tuyên nên thuộc trường hợp được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện. Do đó, nguyên đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với phần không được Tòa án chấp nhận là: 5% x (157.848.000 đồng - 146.792.000 đồng) = 552.800 đồng.

Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là: 5% x 146.792.000 đồng = 7.339.600 đồng.

[6] Đối với giao dịch giữa bị đơn và ông Nguyễn Trung N, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định trường hợp phát sinh tranh chấp thì ông P có quyền khởi kiện/yêu cầu thành vụ việc khác theo thủ tục tố tụng tố tụng dân sự là đúng quy định.

[7] Từ những phân tích trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Vũ P.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ) - Sửa một phần về thời điểm chịu lãi.

Áp dụng:

  • Các Điều 3, 328, 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Thanh T đối với bị đơn ông Nguyễn Vũ P.

    Buộc ông Nguyễn Vũ P có nghĩa vụ trả cho ông Mai Thanh T số tiền 146.792.000 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi hai ngàn đồng). Trong đó: tiền gốc là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) và tiền lãi là 26.792.400 đồng (Hai mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi hai ngàn bốn trăm đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự:
    • Án phí sơ thẩm:

Bị đơn ông Nguyễn Vũ P phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch là 7.339.600 đồng (Bảy triệu ba trăm ba mươi chín ngàn sáu trăm đồng).

Nguyên đơn ông Mai Thanh T phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch là 552.800 đồng (Năm trăm năm mươi hai ngàn tám trăm đồng). Khấu trừ 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010454 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Cần Thơ) nên đương sự được nhận lại số tiền là 2.447.200 đồng (Hai triệu bốn trăm bốn mươi bảy ngàn hai trăm đồng).

  • Án phí phúc thẩm:

Bị đơn ông Nguyễn Vũ P không phải chịu án phí phúc thẩm. Nên đương sự được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010643 ngày 03/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Cần Thơ).

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND khu vực 12 - Cần Thơ;
  • - Phòng THADS khu vực 12 - Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trang Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 653/2025/DS-PT ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp về tiền đặt cọc theo thỏa thuận mua bán lúa

  • Số bản án: 653/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về tiền đặt cọc theo thỏa thuận mua bán lúa
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T/c về tiền đặt cọc theo thỏa thuận mua bán lúa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger