Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – CAO BẰNG


Bản án số: 62/2025/HS-ST

Ngày: 28-11-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dong

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hữu Hoan
  2. Bà Hoàng Thị Bằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng đã tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 63/2025/TLST-HS, ngày 10 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa điểm cầu trung tâm là trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1- Cao Bằng và điểm cầu thành phần là trại giam Công an tỉnh C đối với:

Nông Minh T (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 12 tháng 7 năm 1984 tại phường T, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Thái H, sinh 1951, trú tại: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng và bà Nông Thị K (đã chết); Vợ; Con: Không có; Anh chị em ruột: Có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: 01 tiền án, ngày 21/6/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo bản án số 58/HS-ST ngày 21/6/2019. Đến ngày 30/9/2024 chấp hành án xong.

Tiền sự: không.

Về nhân thân:

  • Ngày 05/01/2004 bị Toà án nhân dân thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo bản án số 28/HS-ST.
  • Ngày 23/5/2007 bị Toà án nhân dân thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo bản án số 43/HS-ST.
  • Ngày 14/6/2010 bị Toà án nhân dân thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo bản án số 42/HS-ST.
  • Ngày 20/11/2014 bị Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo bản án số 77/HS-ST.
  • Ngày 19/9/2019 bị Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 211/QĐ-XPVPHC.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Trại gam công an tỉnh C từ ngày 01/8/2025 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người làm chứng: Nông Thái H; sinh năm : 1951

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 20 phút ngày 01/08/2025, tổ công tác Công an phường T, tỉnh Cao Bằng trong quá trình làm nhiệm vụ tại khu vực tập thể ba tầng thuộc tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Nông Minh T (sinh ngày 12/7/1984, trú tại: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và bột trong túi quần phía trước, bên phải của Nông Minh T đang mặc, đem cân có khối lượng 0,0692g (không phẩy không sáu chín hai gam). Ngoài ra thu giữ các tài sản gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12 màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen và số tiền 4.130.000đ (bốn triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) trên người Nông Minh T.

Ngày 02/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C ra Quyết định trưng cầu giám định số 2081 đối với vật chứng của vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 373 ngày 07/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H1), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Quá trình điều tra xác định: Do bản thân nghiện ma tuý nên vào khoảng 17 giờ, ngày 01/8/2025, Nông Minh T một mình đi bộ từ nhà tại khu tập thể 3 tầng thuộc tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng đến khu vực bờ kè gần nhà để tìm mua Heroine về sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông không quen biết dáng giống người nghiện nên hỏi mua Heroine. Người đàn ông đồng ý. T đưa cho người này số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), người này đưa lại cho T 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong có chứa Heroine. Trao đổi mua bán xong, người đàn ông đi đâu T không biết. Còn T để gói Heroine vào trong túi quần bên phải phía trước. Trên đường về nhà khi đến khu tập thể 3 tầng, T bị lực lượng chức năng bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng đã nêu ở trên.

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy (Heroine), nhiều lần bị xử phạt do có hành vi vi phạm liên quan đến mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy. Hiện còn 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xoá án tích (Ngày 21/6/2019 T bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 58/HSST ngày 21/6/2019. Đến ngày 30/9/2024, Bị cáo mới chấp hành xong án phạt tù).

Hành vi của bị cáo đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Bản cáo trạng số:14/CT-VKSKV 1 ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nông Minh T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù.

  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy:

01(một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “số 373/KL-KLHS Hoàn mẫu sau giám định vụ Nông Minh T, bắt ngày 01/8/2025”. Mặt sau có 03 dấu giáp lai của phòng K1 Công an tỉnh C và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu đỏ giáp lai của phòng K1 Công an tỉnh C.

Hoàn trả cho bị cáo:

  • 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi 12 không có phần mặt lưng, để lộ pin, mặt kính điện thoại nứt vỡ, điện thoại cũ đã qua sử dụng, bên trong có thẻ sim vinaphone. Tại thời điểm tra máy không lên nguồn, không kiểm tra được IMEI và số điện thoại.
  • 01 điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu Masstel, màu đen, IMEI 1:350335899679001; IMEI 2:350335899679019; Bên trong có 01 thẻ sim V. Tại thời điểm kiểm tra máy không lên nguồn.
  • Hoàn trả cho bị cáo: Số tiền 4.130.000đ (Bốn triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) đã được chuyển vào tài khoản 3949.0.1054207.00000 của phòng nghiệp vụ 2 Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng mở tại kho bạc nhà nước khu vực VII.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên về tội danh cũng như mức hình phạt; Tuy nhiên, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội trở lại với cộng đồng là công dân lương thiện có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo đã thực hiện, tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, xác định được như sau: Do bản thân nghiện ma tuý nên vào khoảng 17 giờ ngày 01/8/2025, tại khu vực tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng, Nông Minh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,0692g (không phẩy không sáu chín hai gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng. Bị cáo có 01 tiền án về Tội mua bán trái phép chất ma túy chưa được xoá án tích.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy 0,0692g (không phẩy không sáu chín gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là rõ ràng, bị bắt trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Cao Bằng đã truy tố là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251, 252 và 256 a của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội và gây nguy hại cho cơ thể người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình và xã hội. Việc sử dụng trái phép chất ma túy hiện nay đang gây nhức nhối trong dư luận nhân dân và đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn trong xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo có nhân thân xấu, từ năm 2004 cho đến 2019 bị cáo đã bị 04 bản án xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 21/6/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo bản án số 58/HS-ST. Đến ngày 30/9/2024 chấp hành án xong án phạt tù, nhưng tính đến nay bị cáo chưa được xoá án tích. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người nghiện ma tuý và nhận thức rõ tác hại của ma túy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có bố đẻ là ông Nông Thái H là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất theo Quyết định số 114/KT/HĐBT ngày 29/8/1984 của Hội đồng Bộ trưởng nước Công hoà, xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo đã được áp dụng là tình tiết định khung hình phạt của tội này nên không áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ là 0,0692 gam nên khi xem xét mức hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc trên mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm, xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử xét thấy khả năng tự cải tạo của bị cáo là không đảm bảo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để nhằm giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung đối với xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 của tội danh này quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền là hình phạt bổ sung. Xét thấy, bản thân bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung với đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt của bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[6] Liên quan đến vụ án này, đối với người đàn ông bán ma túy (H) cho Nông Minh T tại khu vực bờ kè thuộc tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng, quá trình điều tra do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đang tiếp tục xác minh, nếu có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý trong vụ án khác nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Đối với: 01(một) phong bì niêm phong mặt trước ghi:“số 373/KL-KLHS Hoàn mẫu sau giám định vụ Nông Minh T, bắt ngày 01/8/2025”. Mặt sau có 03 dấu giáp lai của phòng K1 Công an tỉnh C và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Đây là chất ma tuý Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.
  • Đối với:
    • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12, màu trắng, có số IMEI: 861065061003100, được lắp sim số: 0845.612.784, máy không có phần mặt lưng, để lộ pin, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
    • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, có số IMEI: 350335899679001; IMEI2: 350335899679019, được lắp sim số: 0339.120.784, máy cũ đã qua sử dụng.

Hai chiếc điện thoại này bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần hoàn trả cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

  • Đối với: Số tiền 4.130.000đ (Bốn triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) đã được chuyển vào tài khoản 3949.0.1054207.00000 của phòng nghiệp vụ 2 Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng mở tại kho bạc nhà nước khu vực VII. Số tiền này của bố bị cáo là ông Nông Thái H cho cá nhân bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần hoàn trả cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đối với bị cáo Nông Minh T

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. - Xử phạt:

    Bị cáo Nông Minh T 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/8/2025. Quyết định tạm giam bị cáo sau phiên toà để đảm bảo việc Thi hành án.

    - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. - Tịch thu, tiêu hủy:

    01(một) phong bì niêm phong mặt trước ghi:“số 373/KL-KLHS Hoàn mẫu sau giám định vụ Nông Minh T, bắt ngày 01/8/2025”. Mặt sau có 03 dấu giáp lai của phòng K1 Công an tỉnh C và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

    - Hoàn trả cho bị cáo Nông Minh T gồm:

    • 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi 12 không có phần mặt lưng, để lộ pin, mặt kính điện thoại nứt vỡ, điện thoại cũ đã qua sử dụng, bên trong có thẻ sim vinaphone. Tại thời điểm tra máy không lên nguồn, không kiểm tra được IMEI và số điện thoại.
    • 01 điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu Masstel, màu đen, IMEI 1:350335899679001; IMEI 2:350335899679019; Bên trong có 01 thẻ sim V. Tại thời điểm kiểm tra máy không lên nguồn.
    • Số tiền 4.130.000₫ (Bốn triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) đã được chuyển vào tài khoản 3949.0.1054207.00000 của phòng nghiệp vụ 2 Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng mở tại kho bạc nhà nước khu vực VII.

    Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang được tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 17 ngày 10/11/2025.

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Nông Minh T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Công an tỉnh Cao Bằng;
  • VKSND khu vực 1- Cao Bằng;
  • VKS nhân dân tỉnh Cao Bằng;
  • TAND tỉnh Cao Bằng;
  • Phòng THADS KV 1 -Cao Bằng;
  • THADS tỉnh Cao Bằng;
  • Lưu hồ sơ;
  • Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Dong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 62/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Nông Minh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger