Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 355/2025/DS-PT

Ngày: 27-11-2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân

sự vay tài sản”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Vân

Ông Huỳnh Châu Thạch

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Tất Thái – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Đinh Tiến Hòa – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 311/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 527/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 369/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị S, sinh năm 1964; địa chỉ: Số C Đồi M, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Huy C, sinh năm 1972 và bà Võ Hoàng Bội N, sinh năm 1976; cùng địa chỉ: Số I đường B, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Ông C, bà N có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Huy C

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đoàn Thị S trình bày:

Ngày 25/01/2022 vợ chồng Nguyễn Huy C và bà Võ Hoàng Bội N có vay của bà 320.000.000 đồng để làm sổ đất, hai bên thỏa thuận lãi suất theo lãi cơ bản của ngân hàng. Khi vay hai bên có viết giấy vay tiền, thời hạn vay 03 tháng kể từ ngày 25/01/2022 đến ngày 25/4/2022 với tiền lãi 2.900.000 đồng/tháng. Ngày 25/6/2022 bà N, ông C vay thêm 50.000.000 đồng để đóng thuế làm sổ đất, lãi suất 1%/tháng tương ứng 500.000 đồng/tháng; tổng cộng 02 lần vay là 370.000.000 đồng. Ông C, bà N đã trả được 47.000.000 đồng tiền lãi từ ngày 25/01/2022 đến ngày 25/03/2023. Từ đó đến nay thì không trả lãi và gốc nên bà yêu cầu ông C, bà N trả tiền gốc và tiền lãi tổng cộng là 461.800.000 đồng, gồm tiền gốc 370.000.000 đồng và tiền lãi 91.800.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Huy C và bà Võ Hoàng Ngọc B trình bày:

Ông bà thừa nhận có vay của bà Đoàn Thị S 02 lần với tổng số tiền là 370.000.000 đồng. Sau đó có trả tiền lãi đến ngày 25/3/2023 là 47.100.000 đồng. Số tiền vay này xuất phát từ việc ông bà thỏa thuận nhận chuyển nhượng căn chung cư B, đường N, Phường F, thành phố Đ. Hai bên đã lập hợp đồng đặt cọc và ông bà đã giao cho bà S 100.000.000 đồng, hàng tháng còn chuyển 15.200.000 đồng tiền lãi của việc mua bán chung cư. Đối với yêu cầu của bà S thì ông, bà đồng ý trả 370.000.000 đồng tiền gốc, còn tiền lãi thì ông bà không đồng ý trả vì trong giấy vay tiền để lãi suất là thoả thuận nhưng thực tế là không tính lãi.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị S về việc khởi kiện "Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản".

Buộc ông Nguyễn Huy C, bà Võ Hoàng Bội N có nghĩa vụ trả cho bà Đoàn Thị S số tiền 458.999.200 đồng. Trong đó nợ gốc là 370.000.000 đồng và nợ lãi 88.999.200 đồng.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị S đối với yêu cầu ông Nguyễn Huy C, bà Võ Hoàng Bội N trả số tiền lãi 6.888.000 đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Đoàn Thị S:

Bà Đoàn Thị S có trách nghiệm trả lại cho ông Nguyễn Huy C, bà Võ Hoàng Bội N: giấy tờ căn hộ 204 nhà A2 Chung cư N; sổ hộ khẩu, căn cước công dân bản gốc; sổ bảo hiểm tên Nguyễn Huy C, số F (Bà S đã giao trả xong các giấy tờ trên cho ông C, bà N tại phiên tòa).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 12/8/2025, bị đơn ông Nguyễn Huy C kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm huỷ bỏ giao dịch mua bán nhà giữa bị đơn và nguyên đơn, buộc nguyên đơn trả lại tiền đặt cọc nhà là 100.000.000 đồng, tiền thuê nhà 16.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 30/11/2021 đến ngày 30/8/2024 cùng một số tài sản khác.

Tại phiên tòa,

Bị đơn ông Nguyễn Huy C vẫn giữ nguyên kháng cáo.

Nguyên đơn bà Đoàn Thị S không đồng ý với kháng cáo của ông C, đề nghị giải quyết như bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của ông Nguyễn Huy C, thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Qua xem xét kháng cáo của ông Nguyễn Huy C thì thấy rằng:

[2.1] Đối với số tiền vay:

Các giấy vay tiền ngày 25/01/2022 và ngày 25/6/2022 đều có chữ ký xác nhận và ghi họ tên bên vay là Nguyễn Huy C, Võ Hoàng Bội N. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng thừa nhận có vay của bà S 02 lần với số tiền tổng cộng là 370.000.000 đồng. Do đó, căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự có căn cứ xác định ông C, bà N có nợ bà S số tiền vay gốc 370.000.000 đồng; Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử buộc ông C, bà N phải trả số tiền 370.000.000 đồng cho nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.2]. Về tiền lãi:

Ông C, bà N cho rằng 02 giấy vay tiền có thỏa thuận lãi suất nhưng thực tế hai bên không tính lãi; tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng đã trình bày vợ chồng bị đơn đã trả lãi cho bà S đến ngày 25/3/2023 là 47.100.000 đồng nên xác định giao dịch vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn là có thoả thuận trả lãi.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền lãi đối với số tiền nợ gốc 320.000.000 đồng, từ ngày 25/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án 31/7/2025. Xét thấy, giấy vay tiền ngày 25/01/2022 thể hiện lãi suất theo thoả thuận nhưng không xác định rõ mức lãi suất, bị đơn không đồng ý yêu cầu tính lãi nên căn cứ khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ông C, bà N có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền lãi cụ thể là: 320.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 28 tháng 5 ngày (từ ngày 26/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 31/7/2025) = 74.810.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời gian tính lãi là 28 tháng 6 ngày là chưa chính xác.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền lãi trên đối với số tiền nợ gốc 50.000.000 đồng, từ ngày 25/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án 31/7/2025. Xét thấy, giấy nhận nợ ngày 25/6/2022 hai bên thỏa thuận về lãi là 1%/tháng, nên ông C, bà N có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền lãi cụ thể là: 50.000.000 đồng x 1%/tháng x 28 tháng 5 ngày (từ ngày 26/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 31/7/2025) = 14.083.500 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời gian tính lãi 28 tháng 6 ngày là chưa chính xác.

[2.3]. Xét các nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm huỷ bỏ giao dịch mua bán nhà giữa bị đơn và nguyên đơn, buộc nguyên đơn trả lại tiền đặt cọc nhà là 100.000.000 đồng, tiền thuê nhà 16.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 30/11/2021 đến ngày 30/8/2024 cùng một số tài sản khác; do bị đơn không khởi kiện phản tố các yêu cầu này nên Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý; vì vậy cấp phúc thẩm không thể xem xét giải quyết, trường hợp các bên có tranh chấp sẽ khởi kiện giải quyết bằng vụ án khác.

Như vậy, bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền lãi tổng cộng là 74.810.000 đồng + 14.083.500 đồng = 88.893.500 đồng. Không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu trả tiền lãi là 95.880.000 đồng – 88.893.500 đồng = 6.986.500 đồng.

Từ những phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm như những nhận định trên.

[3]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên ông C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền khởi kiện không được Tòa án chấp nhận nhưng

nguyên đơn bà S sinh năm 1964 và có đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí, án phí nên thuộc trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Huy C; sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị S về việc khởi kiện "Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản" với bị đơn ông Nguyễn Huy C, bà Võ Hoàng Bội N.
  2. Buộc ông C và bà N có nghĩa vụ trả cho bà S số tiền nợ vay 458.893.500 (Bốn trăm năm mươi tám triệu tám trăm chín mươi ba nghìn năm trăm) đồng, gồm tiền gốc là 370.000.000 đồng và tiền lãi là 88.893.500 đồng.

    Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà S đối với yêu cầu ông C, bà N trả số tiền lãi 6.986.500 đồng.

  3. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà S:
  4. Bà S có trách nhiệm trả lại cho ông C, bà N: Giấy tờ căn hộ 204 nhà A2 Chung cư N; sổ hộ khẩu, căn cước công dân bản gốc; sổ bảo hiểm tên Nguyễn Huy C số 6816007992 (Bà S đã giao trả xong các giấy tờ trên cho ông C, bà N tại phiên tòa sơ thẩm).

  5. Về án phí:
    • Án phí dân sự sơ thẩm: Ông C và bà N phải chịu 22.355.740 (Hai mươi hai triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm bốn mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng ông C đã nộp theo Biên lai thu số 0002575 ngày 21/8/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng. Ông C và bà N còn phải nộp 22.055.740 đồng tiền án phí.
    • Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Cao không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  6. Về nghĩa vụ thi hành án:

Kể từ ngày 01/8/2025 cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành Án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND khu vực 1 – Lâm Đồng;
  • - Phòng THADS khu vực 1 – Lâm Đồng;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Lưu: Lưu trữ, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 355/2025/DS-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 355/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger