Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 331/2025/DS-PT

Ngày 27 tháng 11 năm 2025

V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết, bà Trịnh Ngọc Thúy.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 và 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 303/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2025; tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2025, của Toà án nhân dân khu vực 11 – An Giang, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 289/2025/QĐXX-PT ngày 23 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị C (Bích C1), sinh năm 1976; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (nay là ấp L, xã L, tỉnh An Giang); có mặt.
  2. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Tố Q, sinh năm 1989; là Luật sư Công ty L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: số C B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là phường L, tỉnh An Giang); có mặt.

  3. Bị đơn:
    1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã C, tỉnh An Giang); có mặt.
    2. Ông Lê Văn N, sinh năm 1949; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã B, tỉnh An Giang); vắng mặt.
    3. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1951; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã B, tỉnh An Giang); có mặt.
    4. Bà Nguyễn Thị Dung E, sinh năm 1972; địa chỉ: số nhà H, tổ A, ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã C, tỉnh An Giang); có mặt.

Đại diện theo ủy quyền cho bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Dung E Nguyễn Thị H có ông Hồ Trung C2, sinh năm 1970; địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)

Người kháng cáo: Bà Vũ Thị C là nguyên đơn; bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Dung E và Nguyễn Thị H là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Vũ Thị C (B) trình bày:

Vào ngày 23/02/2022, bà D, bà H, ông N có vay của bà C số tiền 650.000.000 đồng, mục đích để đáo hạn ngân hàng, lãi suất thỏa thuận 7%/tháng, trong vòng 5 ngày sẽ trả vốn và lãi. Để đảm bảo khoản vay, bà H, bà D có giao cho bà C bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH10878, ngày 10/5/2019 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn N. Việc vay có làm hợp đồng cho cá nhân vay tiền ngày 23/02/2022 (gọi tắt là hợp đồng) do bà C chuẩn bị nội dung, ông Tôn Hữu P ký tên người làm chứng, bà D, bà H, ông N có ký tên, ghi họ và tên. Do ông N không có mặt nên bà C đưa 02 bản chính hợp đồng cho bà D và bà H đem về cho ông N ký và giao lại cho bà C 01 bản, bà D giữ 01 bản. Sau đó, bà D, bà H yêu cầu bà C cho vay thêm số tiền 250.000.000 đồng, bà C đồng ý nên nhờ ông P ghi bổ sung vào hợp đồng thêm dòng chữ “Bà Nguyễn Thị D vay thêm số tiền của bà C 250.000.000 đồng. Tổng cộng 650.000.000 đồng”.

Cùng thời gian trên, bà D yêu cầu bà C cho bà D và bà Dung E (em ruột bà D) vay số tiền 150.000.000 đồng và giao thêm cho bà C bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH09326 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Trương Thị B để làm niềm tin.

Do nội dung của hợp đồng khác với nội dung thỏa thuận về số tiền vay, tài sản thế chấp, người vay nên bà C ghi lại nội dung vay tiền vào khoảng trống tại trang 3 của hợp đồng thể hiện đầy đủ người vay, số tiền vay, tài sản thế chấp, lãi suất thỏa thuận, bà H và bà D ký tên với sự chứng kiến của bà C và ông P. Riêng ông N vắng mặt nên bà D và bà H đem về cho ông N ký. Sau khi kiểm tra có đầy đủ chữ ký, chữ viết của bên vay thì bà C giao cho bà D, bà H số tiền 800.000.000 đồng và nhận bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH09326 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Trương Thị B (được cập nhật nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 29/4/2010 với nội dung thửa đất 6 được tách thành thửa 82, diện tích 312,8m² (ONT) chuyển cho bà Nguyễn Thị D hợp đồng số 36/CN ngày 29/4/2010) và bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH10878 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn N.

Đến hạn trả nợ, bà C gặp bà D để yêu cầu trả vốn và đóng lãi thì bà D hứa nhiều lần nhưng không thực hiện. Đến ngày 17/3/2022, bà C gặp bà Dung E và bà D thì bà Dung E, bà D hứa đến ngày 26/3/2022 sẽ trả vốn và lãi, việc hứa trả nợ có làm biên nhận do bà C ghi nội dung, có chữ ký của bà D và bà Dung E.

Do ông N, bà H, bà D và bà Dung E vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà C khởi kiện yêu cầu ông N, bà H, bà D có nghĩa vụ trả cho bà C số tiền vay 650.000.000 đồng; yêu cầu bà D, bà Dung E có nghĩa vụ trả cho bà C số tiền 150.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 23/02/2022 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm. Yêu cầu xử lý hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH09326 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Trương Thị B và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH10878, ngày 10/5/2019 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn N.

Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị D cho rằng:

Thống nhất với lời trình bày của bà C về thời gian vay, thời gian trả nợ, mục đích vay, tài sản thế chấp là giấy chứng nhận do ông N và bà H đứng tên quyền sử dụng. Tuy nhiên, bà D chỉ thừa nhận vay của bà C số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 7.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Đến khoảng tháng 6/2022, bà D có gặp bà C để trả số tiền vốn 400.000.000 đồng và xin trả lãi 3%/tháng nhưng bà C không đồng ý nên bà D chưa trả vốn và lãi.

Về nội dung hợp đồng cho cá nhân vay tiền ngày 23/02/2022, bà D xác định khi ký tên và nhận tiền chỉ có văn bản đánh máy, không có nội dung ghi thêm như bà C trình bày, ký tên và ghi họ tên tại trang 1 và trang 2, bà H ký giáp lai trang 3. Ông N không biết khoản vay này cũng như việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà C, bà D đồng ý trả số tiền 400.000.000 đồng với hình thức trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng đến khi dứt nợ, xin không trả lãi và đồng ý xử lý việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH10878 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn N theo quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H cho rằng:

Vào thời gian nào không nhớ rõ, bà H, bà D có gặp bà C để vay số tiền 400.000.000 đồng, mục đích vay để đáo hạn Ngân hàng, việc thỏa thuận lãi suất và thời gian trả do bà D và bà C thỏa thuận với nhau. Để đảm bảo khoản vay, bà H có đem bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH10878 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn N cho bà D mượn để thế chấp cho bà C. Việc vay có làm hợp đồng do bà C chuẩn bị nội dung, bà H có ký tên, ghi họ và tên ở cuối trang 1 và mục người vay, bà H có ký tên, không ghi họ và tên tại trang 3 của hợp đồng. Khi ký tên, nội dung hợp đồng không có chữ ghi thêm giống như nội dung bà C cung cấp cho Tòa án. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà C, bà H không đồng ý trả số tiền vay, đồng ý xử lý việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Dung E trình bày:

Bà Dung E không thống nhất với lời trình bày của bà C liên quan đến số tiền vay 150.000.000 đồng mà thừa nhận có vay tiền của bà C nhiều lần với số tiền 62.000.000 đồng, mục đích vay để đáo hạn ngân hàng, lãi suất thỏa thuận 4%/tháng, không thỏa thuận thời gian trả, việc vay không làm biên nhận. Đối với biên nhận ngày 17/3/2022, bà Dung E xác định không phải chữ ký, chữ viết do bà ký ra. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà C, bà D đồng ý trả số tiền vay 62.000.000 đồng với hình thức trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi dứt nợ và xin không trả lãi, đồng ý xử lý việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH09326 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Trương Thị B theo quy định pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/7/2024, ông Tôn Hữu P cho rằng, Vào ngày 23/02/2022, bà C có nhờ ông làm hợp đồng cho cá nhân vay tiền thể hiện ông N, bà D, bà H có vay của bà C số tiền 400.000.000 đồng và thế chấp các giấy tờ thể hiện như nội dung của hợp đồng. Bà D, bà H ký tên trước mặt ông P, ông N không có mặt nên bà C giao hai bản chính hợp đồng cho bà D và bà H đem về cho ông N ký tên. Sau đó, bà D và bà H có nhu cầu vay thêm số tiền 250.000.000 đồng nên bà C nhờ ông P ghi thêm vào nội dung của hợp đồng như bà C trình bày. Sau đó, bà Dung E có nhu cầu vay số tiền 150.000.000 đồng để dùng trong sinh hoạt chung của bà D, bà Dung E và thế chấp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Trương Thị B. Sau khi bà D, bà H và bà Dung E thống nhất được số tiền vay 800.000.000 đồng và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Trương Thị B nên bà C mới ghi thêm nội dung dưới chữ ký của ông P. Bà Dung E có mặt nhưng không có ký tên, ông N vắng mặt nên bà C giao cho bà H, bà D đem về cho ông N ký và giao lại cho bà C 01 bản.

Tại biên bản lấy lời khai đương sự do Cán bộ Tòa án lập ngày 21/5/2025, ông N xác định, ông không biết các khoản vay của bà C cũng như việc bà D, bà H và bà Dung E vay tiền của bà C. Quyền sử dụng đất do ông N và bà H đứng tên đã sang nhượng lại cho bà D nhưng chưa làm thủ tục sang tên và giao cho bà D giữ giấy. Việc bà C yêu cầu ông có nghĩa vụ liên đới với bà D, bà H trả số tiền vay 650.000.000 đồng và lãi suất thì ông không đồng ý và không có ý kiến đối với việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp cho bà C.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 01/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11– An Giang đã xử:

Căn cứ các Điều 131, 138, 463, 466, 468, 470 và 502 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 147, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị C (B).
    • Buộc bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Vũ Thị C số tiền 1.092.000.000 đồng (một tỷ không trăm chín mươi hai triệu đồng); buộc bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Dung E có nghĩa vụ trả cho bà Vũ Thị C số tiền 252.000.000 (hai trăm năm mươi hai triệu) đồng.
    • Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi trả xong nợ.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị C đối với ông Lê Văn N có nghĩa vụ cùng với bà H, bà D trả cho bà C số tiền 650.000.000 (sáu trăm năm mươi triệu) đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ ngày 23/02/2022 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm.
  3. Tuyên bố việc thế chấp quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH10878, ngày 10/5/2019 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn N; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH09326 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Trương Thị B (29/4/2010 cập nhật nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý thửa đất 6 được tách thành thửa 82, diện tích 312,8m² (ONT) chuyển cho bà Nguyễn Thị D hợp đồng số 36/CN ngày 29/4/2010) là vô hiệu.
    • Buộc bà Vũ Thị Chi T trả lại cho bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn N bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH10878, ngày 10/5/2019 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn N.
    • Buộc bà Vũ Thị Chi T trả lại cho bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị D Em giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH09326 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Trương Thị B (29/4/2010 cập nhật nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý thửa đất 6 được tách thành thửa 82, diện tích 312,8m² (ONT) chuyển cho bà Nguyễn Thị D hợp đồng số 36/CN ngày 29/4/2010).
  4. Hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp” quy định tại Điều 121 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới áp dụng tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2024/QĐ-BPKCTT ngày 11 tháng 9 năm 2024 trong vụ án tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.
  5. Hủy bỏ Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 02/2024/QĐ-BPBĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới. Bà Vũ Thị C được nhận lại số tiền đã thực hiện biện pháp bảo đảm là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng tại tài khoản phong tỏa số 6711205007568 mở tại Ngân hàng N2 – Chi nhánh C3.
  6. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Dung E có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Vũ Thị C chi phí giám định 2.400.000 (hai triệu, bốn trăm nghìn) đồng do bà C đã tạm ứng trước.
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị H phải chịu 44.760.000 (bốn mươi bốn triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng bà H được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi. Vì vậy, bà D phải chịu 44.760.000 (bốn mươi bốn triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Dung E có nghĩa vụ chịu 12.600.000 (mười hai triệu, sáu trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn N1, bà Vũ Thị C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Vũ Thị C số tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.000.000 (mười tám triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015600 ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, thời hạn yêu cầu thi hành án khi án có hiệu lực.

Ngày 10/7/2025, nguyên đơn Vũ Thị C kháng cáo yêu cầu xem xét sửa án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Ngày 08/7/2025, bị đơn Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Dung E và Nguyễn Thị H kháng cáo yêu cầu xem xét sửa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo; không yêu cầu xem xét áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

Bị đơn Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Dung E đồng ý trả số tiền vay 400.000.000đ, bà Dung E đồng ý trả 62.000.000đ và tính lãi suất theo pháp luật;

Ông Hồ Trung C2 đại diện theo ủy quyền cho bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Dung E, bà Nguyễn Thị H trình bày ý kiến: Căn cứ tài liệu do bị đơn cung cấp thì có 2 tờ hợp đồng cho vay cá nhân có sự khác nhau, 1 hợp đồng do bị đơn cung cấp không có phần ghi thêm vào 250.000.000đ, không có chữ viết ghi thêm vào phần trống dưới chữ ký của người làm chứng Tôn Hữu P, các bị đơn khai nhận rằng các bị đơn ký có khoản trống do ông P kêu ký giáp lai,...bà C thừa nhận bà có ghi thêm vào, đều này cho thấy phía bị đơn không mượn thêm 250.000.000đ; nên nguyên đơn yêu cầu số tiền vay 650.000.000đ là không có cơ sở; đối với số tiền vay 150.000.000đ thì giám định chữ ký không phải của bà D, giám định cũng không đủ căn cứ kết luận thời điểm chữ viết và chữ ký cùng thời điểm viết và ký ra hay không; do đó đề nghị cho hoãn phiên tòa giám định lại, yêu cầu mời ông Tôn Hữu P để đối chất, đề nghị xác minh làm rõ tại Ngân hàng TMCP H1 về việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; mong Hội đồng xem xét lại các chứng cứ để đánh giá chứng cứ được khách quan; đề nghị cho hoãn phiên tòa để làm thêm những nội dung vừa nêu trên;

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu ý kiến: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà C xin rút lại yêu cầu kháng cáo và không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo pháp luật; đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì có cung cấp Hợp đồng vay cá nhân ngày 23/02/2022 và biên nhận vay tiền ngày 27/3/2022 thể hiện rõ các bị đơn có ký tên và tại kết luận giám định cũng xác định chữ viết và chữ ký tên của bà D, Dung E và bà H trong biên nhận, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ; đối với thế chấp QSDĐ và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì bà C đồng ý trả lại theo quyết định của bản án sơ thẩm, việc bị đơn yêu cầu hoãn phiên tòa để làm rõ các nội dung phía bị đơn nại ra, thấy rằng cấp sơ thẩm đã làm rõ, nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ y án sơ thẩm;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

  • Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
  • Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của các đương sự tại phiên tòa, xét thấy cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; tuy nhiên cấp sơ thẩm tính lãi suất và thời gian tính lãi suất là chưa chính xác, cần điều chỉnh lại cho phù hợp; bà H được miễn án phí dân sự sơ thẩm, nên buộc bà D phải chịu ½ số tiền án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với quy định pháp luật; chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, đình chỉ xét xử phúc thẩm của nguyên đơn.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, buộc bị đơn bà D, bà H trả cho bà C tiền vốn gốc, lãi là: 1.087.094.664₫ (trong đó vốn 650.000.000đ, lãi 437.094.664đ); buộc bà D, bà D Em trả cho bà C số tiền vốn, lãi là 249.198.000₫ (trong đó vốn 150.000.000đ, lãi 99.198.000₫), về án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; miễn án phí cho bà H do người cao tuổi, nên chỉ buộc bà D chịu án phí dân sự sơ thẩm ½ đối với số tiền của bà D, bà H phải trả cho bà C. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm giữ y;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Nguyên đơn Vũ Thị C; bị đơn Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Dung E và Nguyễn Thị H nộp đơn kháng cáo hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà C rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, không yêu cầu về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; xét thấy việc rút yêu cầu kháng cáo của bà C là tự nguyện, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bà C và không xem xét đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bà C;

Xét yêu cầu xin hoãn phiên tòa của đại diện theo ủy quyền của bị đơn, thì thấy, cấp sơ thẩm đã có ghi lời khai của ông Tôn Hữu P, ông P khai cụ thể rõ ràng, có cho đối chất nhưng không đối chất được, do có đương sự vắng mặt; về yêu cầu xác minh làm rõ Ngân hàng H1 đang thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Dung E, là không cần thiết, do không liên quan gì trong vụ án; về yêu cầu giám định lại, quá trình cấp sơ thẩm giải quyết các bị đơn cũng không có yêu cầu giám định lại và trong đơn kháng cáo của các bị đơn không có yêu cầu này. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận hoãn phiên tòa phúc thẩm;

[2] Xét yêu cầu kháng cáo bị đơn Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Dung E và Nguyễn Thị H thì thấy;

Bà C căn cứ đồng hợp cho cá nhân vay tiền ngày 23/02/2022, khởi kiện yêu cầu bà H, bà D, ông N1 có nghĩa vụ trả cho bà C nợ gốc 650.000.000, để đảm bảo khoản vay, bà H, bà D có thế chấp cho bà C bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH10878, ngày 10/5/2019 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn N và yêu cầu bà D, bà Dung E có nghĩa vụ trả cho bà C số tiền 150.000.000 đồng; có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH09326 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Trương Thị B (29/4/2010 cập nhật nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý thửa đất 6 được tách thành thửa 82, diện tích 312,8m² (ONT) chuyển cho bà Nguyễn Thị D hợp đồng số 36/CN ngày 29/4/2010) để đảm bảo khoản vay cho bà D và bà Dung E và yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất của pháp luật từ thời điểm vay đến khi xét xử sơ thẩm và xử lý tài sản thế chấp theo pháp luật;

Bị đơn bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị Dung E và ông Lê Văn N không đồng ý với lời trình bày của bà C về số tiền vay. Bà D, bà H thừa nhận có vay của bà C 400.000.000 đồng, có làm hợp đồng vay, nhưng không có chữ viết ghi thêm như hợp đồng của bà C cung cấp, lãi suất thỏa thuận 7.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng. Bị đơn chưa trả vốn và lãi theo thỏa thuận. Chữ ký tên và ghi họ và tên của ông N không phải của ông N mà do bà H ghi dùm. Ông N xác định không có vay tiền cũng như không biết việc bà H, bà D vay tiền và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Văn N, Nguyễn Thị H cho bà C để làm niềm tin.

Bà Dung E không thống nhất lời khai của bà C trình bày, bà Dung E thừa nhận vay tiền của bà C nhiều lần, trong đó có vay số tiền 150.000.000 đồng, có thỏa thuận lãi suất, mục đích vay để đáo hạn Ngân hàng nhưng đã trả xong. Số tiền còn nợ lại của bà C 62.000.000 đồng, có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Trương Thị B; việc vay giữa bà D, bà H và ông N thì bà D Em không biết, chữ ký trong biên nhận ngày 17/3/2022 bà D Em không ký nhận, yêu cầu giám định. Nếu kết quả giám định là của bà Dung E thì đồng ý giải quyết theo quy định của pháp luật.

[3] Đối với hợp đồng cho cá nhân vay tiền ngày 23/02/2022, bà C và bà D cung cấp có khác nhau về nội dung thỏa thuận số tiền vay, chữ ký, ghi họ và tên của các đương sự. Hợp đồng do bà C cung cấp có nội dung ghi thêm bằng chữ viết tay, chữ ký và ghi họ và tên tại trang có ghi nội dung của trang 3 dưới chữ ký của ông Tôn Hữu P. Mặt khác, hợp đồng do bà D cung cấp không có chữ ghi thêm, phía dưới chữ ký của ông P chỉ có chữ ký của bà H, ông N, không ghi họ và tên. Bà D, bà H không thừa nhận các chữ ký này và đồng ý giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối chiếu với hợp đồng do bà D cung cấp thì chỉ có chữ ký của bà C, bà H và ông N, không có chữ ký của bà D; việc bà C ghi thêm nội dung bằng chữ viết tay có chữ ký, ghi họ và tên Nguyễn Thị H, Lê Văn N, chữ ký Nguyễn Thị D được sự thống nhất của các bên. Việc bà Nguyễn Thị D yêu cầu được trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng nhưng không được bà C chấp nhận và việc xin trả dần ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn.

Tại biên nhận ngày 17/3/2022: Theo Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh A xác định chữ ký và chữ viết là của bà Dung E. Mặt khác, bà Dung E cũng thừa nhận có vay của bà C số tiền 150.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng nhưng đã trả xong, số tiền còn nợ lại bà C là 62.000.000 đồng và đồng ý trả số tiền này nhưng không được bà C thừa nhận, bà D Em không có chứng cứ gì chứng minh là đã trả hết cho bà C số tiền 150.000.000đ;

Mặc dù biên nhận này không phải chữ ký và chữ viết của bà D nhưng đối chiếu với hợp đồng cho cá nhân vay tiền ngày 23/02/2022 thể hiện nội dung “Bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị Dung E có vay thêm của bà C số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 7%, có thế chấp QSDĐ 312,8m² đất thửa số 82 chuyển cho bà Nguyễn Thị D,......”, có chữ ký của bà D, kết hợp với chữ ký tên, ghi họ và tên của bà Dung E tại biên nhận 17/3/2022 là có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà C, buộc bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị Dung E có nghĩa vụ trả cho bà C số tiền 150.000.000 đồng là phù hợp với Điều 466, 470 Bộ luật Dân sự.

Tại Kết luận giám định số 84/KL KTHS ngày 31/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh A xác định, chữ ký và chữ viết “ Nguyễn Thị H” và chữ ký của bà Nguyễn Thị D trong hợp đồng là do 01 người ký ra. Chữ ký và chữ viết “Nguyễn Thị Dung E” tại biên nhận ngày 17/3/2022 do 01 người ký ra.

Cấp sơ thẩm xác định bà D, bà H có vay của bà C số tiền 650.000.000 đồng, bà Dung E và bà D có vay của bà C số tiền 150.000.000 đồng là có cơ sở theo quy định tại Điều 466, 470 Bộ luật Dân sự; nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận;

[4] Về yêu cầu ông Lê Văn N có nghĩa vụ cùng bà D, bà Dung E, bà H trả cho bà C số tiền 650.000.000 đồng; thì thấy, bà C không trực tiếp chứng kiến ông N ký tên mà đưa cho bà D, bà H về nhà cho ông N ký, nhận tiền không có mặt ông N, bà H, bà D xác định ông N không ký tên và giám định không phải chữ ký của ông N. Mặt khác, ông N cũng xác định không biết khoản vay này, bà C cũng không đưa được chứng cứ chứng minh ông N trực tiếp tham gia giao dịch; tại Kết luận giám định số 84/KL KTHS ngày 31/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh A xác định chữ ký và chữ viết “Lê Văn N” trong hợp đồng không phải cùng một người ký ra. Do đó, yêu cầu ông N có trách nhiệm liên đới cùng bà D, bà H trả số tiền 650.000.000đ là không có căn cứ; cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là đúng pháp luật.

[5] Đối với yêu cầu tính lãi suất: Việc bà H, bà D, bà Dung E vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho bà C làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của bà C; bà C yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật kể từ thời điểm vay đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, bà C, bà D, bà H và bà Dung E xác định vay có thỏa thuận lãi suất, bà C xác định 7%/tháng, bà D xác định lãi 7.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng; việc thỏa thuận lãi suất của các bên là cao hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, cần điều chỉnh lại cho đúng pháp luật;

Căn cứ khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tiền lãi được tính như sau:

Đối với số tiền: 650.000.0000đ từ ngày 23/02/2022 đến ngày 01/7/2025 là: 40 tháng 8 ngày; tiền lãi tính như sau: Số tiền 650.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 40 tháng 08 ngày = 437.094.664 đồng;

Đối với số tiền: 150.000.0000đ từ ngày 17/3/2022 đến ngày 01/7/2025 là: 39 tháng 18 ngày; tiền lãi tính như sau: Số tiền 150.000.000 x 1,66%/tháng x 39 tháng 18 ngày = 99.198.000 đồng;

Như vậy, tổng nợ gốc và lãi bà H, bà D có nghĩa vụ thanh toán cho bà C là 1.087.094.664 đồng; bà D, bà D Em trả cho bà C 249.198.000 đồng.

[6] Đối với tài sản thế chấp là giấy chứng nhận QSDĐ và hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thống nhất xử lý theo pháp luật và thống nhất với quyết định của bản án sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét;

Tuy nhiên, đối với yêu cầu “Tuyên bố việc thế chấp quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vô hiệu và tuyên buộc bà Chi T lại giấy chứng quyền sử dụng đất,...”, đây là quan hệ tranh chấp chưa được cấp sơ thẩm thụ lý và cho đóng tạm ứng án phí, không nằm trong yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn, nên cấp sơ thẩm giải quyết luôn là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu (Theo khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự), là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đáng lý ra cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để giải quyết lại; nhưng xét thấy tại phiên tòa các đương sự thống nhất phần này và không kháng cáo; nên Hội đồng xét xử không nhất thiết hủy án sơ thẩm, cũng cần nêu lên để cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm chung;

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị H phải chịu 44.612.840 đồng, nhưng bà H được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi. Vì vậy, bà D phải chịu 22.306.420 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Cấp sơ thẩm buộc bà D phải chịu luôn ½ tiền án phí mà bà H được miễn là không đúng, cần rút kinh nghiệm. Bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Dung E phải chịu 12.459.900 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, có hiệu lực pháp luật.

[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Vũ Thị C phải chịu tiền án phí; bà D, bà Dung E không phải chịu; bà H được miễn án phí do người cao tuổi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; khoản 2 điều 148; điều 296 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Vũ Thị C (B).

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Dung E và bà Nguyễn Thị H về việc điều chỉnh lại lãi suất và thời gian chịu lãi suất;

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 – An Giang.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị C (B).

Buộc bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Vũ Thị C số tiền vốn 650.000.000 đồng, tiền lãi 437.094.664 đồng; tổng cộng tiền vốn, lãi là 1.087.094.664 đồng (một tỷ không trăm tám mươi bảy triệu không trăm chín mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi bốn đồng);

Buộc bà Nguyễn Thị D và Nguyễn Thị Dung E có nghĩa vụ trả cho bà Vũ Thị C số tiền vốn 150.000.000 đồng, tiền lãi 99.198.000 đồng; tổng cộng tiền vốn, lãi là: 249.198.000 đồng (hai trăm bốn chín triệu, một trăm chín mươi tám nghìn đồng).

Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi trả xong nợ.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị C đối với ông Lê Văn N có nghĩa vụ cùng với bà H, bà D trả cho bà C số tiền 650.000.000 (sáu trăm năm mươi triệu) đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ ngày 23/02/2022 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Dung E có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Vũ Thị C chi phí giám định 2.400.000 (hai triệu, bốn trăm nghìn) đồng do bà C đã tạm ứng trước.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị H phải chịu 44.612.840 đồng, do bà H thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí. Vì vậy, bà D phải chịu 22.306.420 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Dung E có nghĩa vụ chịu 12.459.900 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Vũ Thị C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Vũ Thị C số tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.000.000 (mười tám triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015600 ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - An Giang);

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Vũ Thị C phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016526 ngày 17/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang; bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Dung E được nhận lại mỗi người 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0016522 (bà D), biên lai thu số 0016521 (bà Dung E) cùng ngày 16/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm 01/2025/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2025, của Toà án nhân dân khu vực 11 – An Giang không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (1)
  • - VKSND.AG (1)
  • - THA Dân sự tỉnh An Giang
  • - TAND Khu vực (1)
  • - THA Khu vực (1).
  • - Toà Dân sự (2)
  • - Văn phòng.(1)
  • - Phòng KTNV & THA (1)
  • - Đương sự “Để thi hành"
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 331/2025/DS-PT ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 331/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Ch kiện bà D, bà H, bà E yêu cầu trả tiền vai và lãi.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger