Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 11 - 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiệu Văn Kết Em

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Công;
  2. Bà Dương Thị Bạn.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số: 474/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1992; nơi thường trú: 667 Ấp A, xã T, Thành phố Cần Thơ; nơi tạm trú: 620 khu phố Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Lý Đà R, sinh năm 1987; nơi thường trú: 667 Ấp A, xã T, Thành phố Cần Thơ; nơi tạm trú: 2 khu phố Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 9 năm 2025, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Mỹ P trình bày:

Bà Nguyễn Thị Mỹ P và ông Lý Đà R tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, Thành phố Cần Thơ) được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 46/2012, quyển số 01/2012, ngày 08/3/2012.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị Mỹ P và ông Lý Đà R có 02 người con chung tên Lý Gia B, sinh ngày 28/3/2009 và Lý Thị Ngọc Y, sinh ngày 04/11/2021.

Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc. Sau đó vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa hợp. Vợ chồng nhiều lần tạo cơ hội để đoàn tụ nhưng không thành, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân nhau được 06 tháng.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên bà Nguyễn Thị Mỹ P khởi kiện yêu cầu như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Lý Đà R.

Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Mỹ P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung tên Lý Gia B, sinh ngày 28/3/2009 và Lý Thị Ngọc Y, sinh ngày 04/11/2021.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Mỹ P không yêu cầu ông Lý Đà R có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Lý Đà R trình bày:

Ông Lý Đà R thống nhất toàn bộ ý kiến trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ P về mối quan hệ hôn nhân, về con chung. Hôn nhân của bà P và ông R là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, H, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, Thành phố Cần Thơ) được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 46/2012, quyển số 01/2012, ngày 08/3/2012. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Nay bà P yêu cầu ly hôn thì ông R không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ con nhưng nếu bà P cương quyết thì ông đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông Lý Đà R và bà Nguyễn Thị Mỹ P có 02 người con chung tên Lý Gia B, sinh ngày 28/3/2009 và Lý Thị Ngọc Y, sinh ngày 04/11/2021. Sau khi ly hôn, ông R yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Lý Thị Ngọc Y, giao con chung tên Lý Gia B cho bà P nuôi dưỡng. Ông R không yêu cầu bà P phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Lý Thị Ngọc Y.

Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung nên quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện, quá trình tố tụng thể hiện bị đơn ông Lý Đà R có cư trú tại địa chỉ số B khu phố Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ P và ông Lý Đà R xác lập mối quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, Thành phố Cần Thơ) được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 46/2012, quyển số 01/2012, ngày 08/3/2012 nên là hôn nhân hợp pháp.

Bà Nguyễn Thị Mỹ P khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lý Đà R với lý do: Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung thường xuyên cải nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Lý Đà R thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên ông R đồng ý ly hôn với bà P, xét đây là sự tự nguyện của bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Lý Gia B, sinh ngày 28/3/2009 và Lý Thị Ngọc Y, sinh ngày 04/11/2021. Bị đơn ông Lý Đà R không đồng ý giao 02 con chung cho bà P nuôi dưỡng mà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi 01 người con chung Lý Thị Ngọc Y. Xét quá trình tố tụng cháu Lý Gia B có nguyện vọng ở cùng bà P, cháu Lý Thị Ngọc Y là con gái, hiện cháu đang sống với bà P trong thời gian cha mẹ ly thân. Do đó, để đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý bình thường của các con nên cần thiết giao hai con chung cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp pháp luật, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con.

[3.3] Về cấp dưỡng: Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Mỹ P không yêu cầu ông Lý Đà R phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ P.

[4] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là chưa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, hoàn cảnh, điều kiện, nhu cầu của các con nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá toàn diện cho phù hợp.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 244, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
  • - Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ P đối với ông Lý Đà R về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ P được ly hôn với ông Lý Đà R.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 46/2012, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, Thành phố Cần Thơ) cấp cho bà Nguyễn Thị Mỹ P và ông Lý Đà R ngày 08/3/2012 không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Giao hai con chung tên Lý Gia B, sinh ngày 28/3/2009 và Lý Thị Ngọc Y, sinh ngày 04/11/2021 cho bà Nguyễn Thị Mỹ P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Mỹ P không yêu cầu ông Lý Đà R phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0024214 ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Ủy ban nhân dân xã Thới An Hội, Thành phố Cần Thơ );
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thiệu Văn Kết Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 206/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger