|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 120/2025/HS-PT Ngày 28 -11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Gia Lương
Ông Cao Việt Hoàng
- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2025 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Huy Đ, Nguyễn Văn K, do có kháng cáo của đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2025/HS-ST ngày 01/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 321/2025/QĐXXPT-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025.
* Các bị cáo kháng cáo:
1. Nguyễn Đức C, sinh năm 1974; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn C, xã B, tỉnh Bắc Ninh); Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông: Nguyễn Hải Đ1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị B; Vợ: Phạm Thị H; bị cáo có ba con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 51/2015/HSST ngày 21/9/2012, của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt C 05 năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm"
Bản án số 123/2015/HSST ngày 29/9/2015, của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt C 08 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”
Cường phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 13 năm tù. Quyết định miễn chấp hành hình phạt số 04 ngày 26/01/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, miễn chấp hành hình phạt tù đối với C tại hai bản án trên, do thay đổi chính sách pháp luật;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025 đến ngày 26/02/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
2. Nguyễn Huy Đ, sinh năm 1957; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn C, xã B, tỉnh Bắc Ninh); Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/10; Con ông: Nguyễn Huy T (đã chết); Con bà: Lê Thị T1 (đã chết); Vợ: Trần Thị H1; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1988; Tiền án, Tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2024 đến ngày 26/02/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
3. Nguyễn Văn K, sinh năm 1963, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn C, xã B, tỉnh Bắc Ninh); Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/10; Con ông: Nguyễn Văn S (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C1 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị H2; Bị cáo có ba con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, Tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2024 đến ngày 28/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; Hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1984 (có mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố H, xã B, tỉnh Bắc Ninh).
5. Chị Phạm Thị H, sinh năm 1976 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn C, xã B, tỉnh Bắc Ninh)
* Ngoài ra trong vụ án còn một số bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 15 phút ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại đường bê tông thuộc thôn B, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V phối hợp với Công an xã M phát hiện bắt quả tang, bị cáo Vũ Quang T2 và bị cáo Đỗ Văn H4 đang có hành vi mua bán pháo nổ, thu giữ:
- 48 thùng bìa cát tông màu đỏ bên trong đều có 12 khối hình hộp chữ nhật vỏ nhiều màu sắc chứa 36 ống giấy, trong đó: thu giữ 36 thùng bìa cát tông tại thùng xe ô tô tải nhãn hiệu Dothanh, biển kiểm soát 29H-743.27 (viết tắt là xe ô tô biển kiểm soát 29H-743.27) và 12 thùng bìa cát tông dưới ruộng cạnh vị trí xe ô tô, đều nghi là pháo nổ, toàn bộ được niêm phong dán kín đánh số thứ tự từ “T1” đến “T48".
- Thu của Đỗ Văn H4: 01 xe ô tô tải màu biển kiểm soát 29H-743.27; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5s, lắp sim 0976267276, được niêm phong vào một phong bì thư.
- Thu giữ của Vũ Văn T3: Tổng số tiền 95.000.000 đồng, được niêm phong vào một phong bì thư; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 màu đen, lắp sim số 0585901836, 0528488466 được niêm phong vào một phong bì thư.
Ngày 18/12/2024, Cơ quan điều tra đã tạm giữ hình sự đối với Vũ Quang T2, Đỗ Văn H4 về hành vi “Buôn bán hàng cấm”. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Quang T2 và Đỗ Văn H4, kết quả không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Căn cứ lời khai của Vũ Quang T2, Đỗ Văn H4 về nguồn gốc số pháo bị thu giữ mua tại khu vực cầu K, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan điều tra đã phối hợp rà soát cùng Công an xã V, huyện T, thu giữ hình ảnh Camera an ninh cửa gia đình ông Nguyễn Văn H5, sinh năm 1965, tại thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang: phát hiện đêm ngày 17/12/2024, xe ô tô tải biển kiểm soát 29H-743.27 có đi vào kho hàng của gia đình ông Nguyễn Văn N, đang cho Nguyễn Đức C, sinh năm 1974, trú tại thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thuê lại.
Ngày 20/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V tiến hành khám xét khẩn cấp kho hàng của gia đình ông Nguyễn Văn N, tại thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Kết quả khám xét phát hiện thu giữ: Thu giữ trong kho hàng tổng số 567 thùng bìa cát tông đều có đặc điểm vỏ màu đỏ in hình quả táo, bên trong mỗi thùng đựng 12 khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối chứa 36 ống giấy, nghi là pháo hoa nổ, được kiêm phong dán kín đánh số thứ tự từ “01” đến “567”.
Ngày 23/12/2024, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức C tại thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang phát hiện thu giữ: 01 đầu camera nhãn hiệu @Jhua.
Tại Bản kết luận giám định số 2762/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Trong 48 thùng bìa cát tông màu đỏ có chữ nước ngoài đều được dán kín, niêm phong, ký hiệu từ “T1” đến “T48” đã được niêm phong gửi giám định: 567 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối hình hộp dán giấy màu in chữ nước ngoài, trên cạnh có gắn dây ngòi, bên trong mỗi khối hình hộp có 36 hốc hình trụ đều là Pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối lượng 867 kg.
Tại Bản kết luận giám định số 2846/KL-KTHS ngày 29/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Trong 567 thùng bìa cát tông màu đỏ có chữ nước ngoài ký hiệu từ “01” đến “567” đều được dán kín, niêm phong gửi giám định: 6804 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối hình hộp dán giấy màu in chữ nước ngoài, trên cạnh có gắn dây ngòi, bên trong mỗi khối hình hộp có 36 hốc hình trụ đều là Pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối lượng 10169,8 kg.
Ngày 09/7/2024, Nguyễn Đức C ký hợp đồng thuê nhà kho của ông Nguyễn Văn N tại thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang, mục đích để chứa nông sản. Khoảng giữa tháng 11/2024, C gặp một người tên T4 chỉ biết nhà ở thành phố B, còn họ tên, địa chỉ cụ thể không biết; T4 rủ C cùng góp tiền mua pháo hoa nổ loại pháo do Trung Quốc sản xuất để bán kiếm lời. C và đối tượng T4 cùng góp tiền mua pháo chung, T4 tìm chỗ mua pháo nổ, C cung cấp kho thuê của ông N để cất giấu pháo nổ. T4 đưa cho C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, lắp sẵn sim số 0988.494.501 và kết bạn sẵn với zalo của T4 (hiện C không nhớ tên zalo) để liên lạc mua bán pháo nổ. Khoảng vài ngày sau, T4 gọi điện zalo bảo C thuê một xe ô tô tải để chở pháo nổ. Ngày 23/11/2024, Nguyễn Đức C gọi điện vào số 0787.299.666 của anh Hoàng Văn C2, sinh năm 1984, ở thôn C, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để thuê xe chở hàng, mục đích để chở pháo nổ nhưng không nói cho biết. Anh Hoàng Văn C2 đọc cho Nguyễn Đức C số điện thoại 0976.267.xxx của Đỗ Văn H4 và nói người này chuyên chạy xe ô tô tải chở hàng chuyển phát nhanh. Ngày 24/11/2024, Nguyễn Đức C dùng số điện thoại 0988.494.xxx gọi vào số điện thoại của H4 nói thuê chở hàng từ tỉnh Bắc Ninh về huyện T với giá là 3.000.000 đồng/1 chuyến, thì H4 đồng ý, mục đích là chở pháo nổ nhưng không nói cho H4 biết. Buổi tối cùng ngày 24/11/2025, T4 hẹn bị cáo C đến đường vành đai Khu công nghiệp P thuộc phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (cạnh Quốc lộ A) để chở pháo. C đi xe ô tô nhãn hiệu Landrover màu đen, biển kiểm soát 98A-348.29 (viết tắt là xe ô tô biển kiểm soát 98A-348.29) đến gặp T4. Đến nơi, T4 chỉ vào vị trí xe ô tô đầu kéo đang đỗ cạnh đường, bảo lát xe của C sẽ bốc hàng là pháo nổ ở xe này lên xe ô tô tải mà C thuê. Tại đây, Nguyễn Đức C đưa cho T4 200.000.000 đồng tiền mặt để góp tiền mua pháo. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Nguyễn Đức C gọi điện bảo H4 điều khiển xe ô tô theo chỉ dẫn của C đến địa điểm C đã hẹn với T4. H4 điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 29H-743.27 đi đến địa điểm theo yêu cầu của C, đỗ xe ô tô cạnh vị trí xe ô tô đầu kéo (các bị cáo khai không nhớ biển kiểm soát) của T4. Tiếp đó, có vài người đàn ông các bị cáo không biết là ai do T4 thuê từ trước, tiến hành bốc vác thùng bìa cát tông màu đỏ, trên thùng có chữ nước ngoài và in hình quả táo, bên trong đựng pháo nổ từ xe ô tô đầu kéo sang thùng xe ô tô tải của H4. Khi này, H4 cũng không biết là bốc pháo lên xe ô tô. Trong khi bốc pháo lên xe, Nguyễn Đức C đi ra cách điểm bốc pháo khoảng 200 m để cảnh giới, tránh bị Công an phát hiện bắt giữ. Bốc xếp pháo lên xe của H4 xong, C điều khiển xe ô tô chở T4 cùng ba người bốc vác đi trước, còn H4 điều khiển xe ô tô tải đi phía sau theo C. Khi đi đến khu vực ngã ba K, thuộc xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang C đỗ xe lại, H4 cũng đỗ xe. H4 xuống xe, giao xe ô tô cho T4 và đứng đợi ở rìa đường theo yêu cầu của C. T4 điều khiển xe ô tô của H4 chở cùng ba người bốc vác đến kho hàng nêu trên của Nguyễn Đức C đã thuê để cất giấu pháo, còn C điều khiển xe ô tô đi phía trước dẫn đường. Khi đi đến kho hàng, C đưa chìa khóa kho cho T4 để cùng ba người bốc vác chuyển pháo nổ vào trong kho, còn C đi xe ô tô lên phía trên cách cổng vào kho hàng một đoạn để cảnh giới. Bốc pháo xong, C điều khiển xe ô tô đi trước, T4 điều khiển xe ô tô tải của H4 chở ba người bốc theo sau quy lại khu vực ngã ba K trả lại xe ô tô cho H4. H4 nhận xe ô tô rồi đi về, C trả tiền thuê xe sau. Sau đó, C điều khiển xe ô tô của C chở T4 cùng ba người bốc vác quay lại khu vực đường vành đai Khu công nghiệp P thuộc phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh tiếp tục bốc vác pháo nổ chuyển về kho hàng nêu trên. Bằng cách thức tương tự như trên, T4 và C đã sử dụng xe ô tô tải khác do T4 thuê chở thêm hai chuyến pháo nổ đến kho hàng của C thuê để cất giấu. Cất giấu pháo xong, T4 bảo C tìm khách mua pháo và bán giá 6.000.000 đồng/01 thùng, lợi nhuận chia sau. Ngày 26/11/2024, C đến nhà gặp H4 và trả 3.000.000 đồng tiền thuê xe ô tô bốc hàng hôm trước, nhưng vẫn không nói cho biết là H4 chở pháo nổ. C nói với H4 là C có bán pháo hoa nổ, loại do Trung Quốc sản xuất, nếu có nhu cầu mua thì liên hệ với C.
Sáng ngày 16/12/2024, Đỗ Văn H4 nói chuyện và rủ Vũ Quang T2, sinh năm 1982, trú tại thôn B, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cùng góp tiền mua pháo hoa nổ để bán kiếm lời. H4 và T2 thống nhất sẽ cùng góp tiền mua pháo, T2 tìm người mua pháo còn H4 sẽ liên lạc với C để đặt mua pháo. Sau đó, H4 gọi điện thoại cho Nguyễn Đức C hỏi mua pháo hoa nổ thì C đồng ý bán và báo giá 6.000.000 đồng/01 thùng chứa 12 bệ pháo loại 36 quả/01 bệ. H4 báo lại giá mua pháo cho T2 biết để tìm khách mua. Theo lời khai của T2: Sáng ngày 17/12/2024, T2 ngồi tại quán nước gần nhà của T2 thì gặp Ngô Văn Đ2, sinh năm 1994, trú tại thôn Đ, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Qua nói chuyện trao đổi biết việc T2 có bán pháo nổ, Đ2 đặt mua của T2 12 thùng pháo hoa nổ mỗi thùng có 12 bệ pháo với giá là 6.500.000 đồng/ 01 thùng. T2 hẹn đến tối cùng ngày sẽ giao pháo cho Đ2. Sau đó, T2 có báo cho H4 biết có người đặt mua pháo hoa nổ và bảo H4 đặt mua 48 thùng pháo hoa nổ để bán cho khách 12 thùng, số còn lại bán dần, H4 đồng ý. H4 sử dụng tài khoản Ngân hàng M số 8886663356789 của H4 chuyển số tiền 20.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng V số tài khoản 9964122540 của T2 và bảo Toàn góp thêm 30.000.000 đồng, sau đưa lại cho H4 50.000.000 đồng tiền mặt để trả ứng trước tiền mua pháo. T2 đã đưa cho H4 50.000.000 đồng tiền mặt để mua pháo hoa nổ. H4 gọi điện thoại cho C đặt mua 48 thùng pháo hoa nổ và xin trả trước 50.000.000 đồng, số còn lại hôm sau trả nốt tiền, C đồng ý. C hẹn buổi tối cùng ngày sẽ giao pháo cho H4 tại khu vực ngã ba K, huyện T, tỉnh Bắc Giang và yêu cầu H4 điều khiển xe ô tô đến nhận pháo.
Cùng ngày 17/12/2024, C gọi điện thoại bảo Nguyễn Chung T5, sinh năm 1989, trú tại thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang buổi tối đi lái xe ô tô chở hàng cho C, anh T5 đồng ý, mục đích là chở pháo nhưng C không nói cho anh T5 biết. Sau đó, C đến xưởng bóc gỗ ở gần nhà bảo bị cáo Nguyễn Huy Đ và bị cáo Nguyễn Văn K ở cùng thôn, tối đi bốc hàng thuê cho C, mục đích là bốc pháo nhưng C không nói cho cả hai biết. Khoảng 21 giờ ngày 17/12/2024, Đ và K đi bộ đến nhà của C ở thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. C lái xe ô tô biển kiểm soát 98A-348.29 chở Đ và K đến đón T5 đi cùng. Trên đường đi, C đưa chìa khóa kho hàng cho Đ và dặn Đ cùng Kiểm bốc vác 48 thùng hàng lên xe ô tô tải. Sau đó, C điều khiển xe ô tô đi thẳng đến đèn xanh đèn đỏ trên đường T gần cầu K thuộc huyện T, tỉnh Bắc Giang. Theo hướng dẫn của C, H4 lái xe ô tô tải biển kiểm soát 29H-743.27 chở T2 đi đến điểm hẹn.
Khoảng 22 giờ cùng ngày 17/12/2024, tại khu vực đèn xanh đèn đỏ đường C, gần cầu K, C đi xe ô tô đến điểm hẹn thì gặp xe ô tô tải biển kiểm soát 29H-743.27 của H4 đi cùng T2 đến đỗ trước đó. H4 và T2 xuống xe, H4 một mình đi đến xe ô tô của C, đứng cạnh cửa ghế phụ phía trước xe ô tô. C bảo H4 giao lại chìa khóa xe ô tô tải để đi lấy 48 thùng pháo nổ như đã thỏa thuận và bảo H4 đứng đợi. H4 đồng ý, đưa lại chìa khóa xe ô tô cho C thì C đưa chìa khóa xe cho T5 bảo điều khiển xe ô tô của H4 chở K, Đ đi theo xe của C. Theo H4 khai, lúc này chỉ có C và H4 thì H4 đưa cho C 50.000.000 đồng tiền mua pháo như đã hẹn. Sau đó, C điều khiển xe ô tô đi trước, T5 điều khiển xe ô tô của H4 đi theo sau đến kho chứa pháo tại thôn H, xã V, huyện T. Đến nơi, C chỉ vị trí kho hàng, rồi C đi xe ô tô lên phía trên cách kho hàng khoảng 150m. Đ dùng chìa khóa do C đưa cho từ trước mở cửa kho, T5 quay xe vào trong kho rồi lùi đuôi xe sát bên trái kho nhìn từ bên ngoài vào, là nơi để các thùng hàng màu đỏ có in hình quả táo rồi ngồi trên xe, không kiểm tra hàng bốc xếp là gì, còn Đ, K xuống xe bốc xếp hàng. Kiểm vén bạt che các thùng cát tông bên ngoài có in chữ Trung Quốc và hình ảnh quả táo, cùng Đ bê xếp các thùng này lên thùng xe ô tô. Khi này, Đ phát hiện một thùng hàng dán băng dính bị hở mép, nhìn vào bên trong thấy khối hộp hình vuông mặt dán giấy bạc, không phải là táo. Đức kiểm tra thì phát hiện các thùng hàng C thuê bốc lên xe ô tô là pháo hoa nổ nên bảo lại cho K biết nhưng không nói cho T5 biết. Lúc này, Đ, K biết rõ các thùng cát tông đựng pháo hoa nổ nhưng cả hai vẫn tiếp tục cùng nhau bốc xếp đủ 48 thùng pháo lên thùng xe ô tô tải. Bốc xếp các thùng pháo xong, T5 điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 29H-743.27 đi theo C quay về phía cầu K nơi H4, T2 đứng đợi trả xe ô tô cho H4 theo như yêu cầu của C. Tiếp đó, C trả T5 500.000 đồng tiền công lái xe ô tô khi T5 đứng dưới đường. C ngồi trên xe ô tô trả cho Đ và K mỗi người 400.000 đồng. Khi đưa tiền xong, thì K, Đ có bảo lại C là “bảo đi bốc hàng lại thành bốc pháo”, ý là để C trả thêm tiền. C đồng ý trả thêm cho K và Đ mỗi người 100.000 đồng. Sau đó, C điều khiển xe ô tô chở Đ, K, T5 đi về nhà. Về phía H4, nhận xe ô tô chở pháo xong, H4 và T2 điều khiển xe về khu bờ ruộng tại thôn B, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thì đỗ xe lại. Lúc này, H4, T2 bốc 12 thùng pháo từ xe ô tô giấu xuống ruộng để chờ bán cho người khác thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V phát hiện bắt quả tang, thu giữ tổng số 48 thùng pháo nổ vừa mua được và những vật chứng khác như trên.
Ngày 25/12/2024, Nguyễn Huy Đ, Nguyễn Văn K đến Công an thị xã V đầu thú, khai nhận hành vi bốc vác pháo thuê cho Nguyễn Đức C. Ngày 09/01/2025, Nguyễn Đức C đến Công an thị xã V đầu thú khai nhận hành vi buôn bán pháo nổ cho H4 và T2 vào ngày 17/12/2024 và thừa nhận toàn bộ số pháo nổ Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét khẩn cấp kho hàng tại thôn H, xã V, huyện T là của C.
Ngày 22/2/2025, anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc ô tô nhãn hiệu Landrover màu đen, biển kiểm soát 98A-348.29 cùng bản phô tô giấy biên nhận thể hiện C thế chấp xe ô tô cho anh H3. Bà Phạm Thị H, sinh năm 1976 (vợ của C) nộp số tiền 50.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án thị xã Việt Yên để đảm bảo thi hành án cho C.
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho các bị cáo H4, T2, Đ, K, C, anh Nguyễn Chung T5 xác định vị trí giao, nhận xe ô tô tải tối ngày 17/12/2024 tại xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang; tiến hành cho bị cáo Đ, K, C, anh Nguyễn Chung T5 xác định vị trí đỗ xe ô tô tải, vị trí kho chứa pháo ở thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang; tiến hành cho bị cáo H4 xác định vị trí nhận hàng tại Khu công nghiệp P, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh ngày 24/11/2024; kết quả phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo.
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho nhận dạng, kết quả bị cáo K, Đ, C nhận dạng được đúng thùng pháo bị Cơ quan điều tra thu giữ. Bị cáo H4, Đ, K, ông N, anh T5 nhận dạng được Nguyễn Đức C. Tiến hành cho Nguyễn Đức C xem lại hình ảnh Camera thu giữ tại đầu thu nhãn hiệu @Jhua thu tại nhà C có hình ảnh tối ngày 17/12/2024, K và Đ đến nhà C sau đó C điều khiển xe ô tô chở Đ và K đi bốc vác pháo.
* Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2025/HS-ST ngày 01/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh quyết định:
- Căn cứ điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s, điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 09 (chín) năm 6 (sáu) tháng tù về tội "Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ 09/01/2025 đến ngày 26/02/2025.
Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Đức C 50.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s, điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy Đ 03 (ba) năm tù về tội "Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ 25/12/2024 đến ngày 26/02/2025.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Huy Đ.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 03 (ba) năm tù về tội "Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ 25/12/2024 đến ngày 28/01/2025.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn K.
Bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt đối với bị cáo Đỗ Văn H4 và bị cáo Vũ Quang T2 về tội "Buôn bán hàng cấm”.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01(một) xe ô tô con loại 05 chỗ ngồi, biển kiểm soát 98A-348.29.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng khác, án phí và quyền kháng cáo.
* Sau khi án sơ thẩm xử xong, bị cáo C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin lại chiếc xe ô tô BKS 98A - 348.29; bị cáo Đ và bị cáo K đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin lại xe ô tô BKS 98A - 348.29. Bị cáo K, Đ thay đổi nội dung kháng cáo, các bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, không xin giảm hình phạt. Các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác định bản án sơ thẩm đã xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.
- Anh Nguyễn Văn H3 trình bày: bị cáo C có thế chấp chiếc xe ô tô BKS 98A - 348.29 cho anh để vay số tiền 1 tỷ đồng, sau đó anh có cho bị cáo mượn lại xe vài lần để đi lại. Đối với chiếc xe này anh đề nghị trả lại cho bị cáo C, anh và bị cáo C sẽ giải quyết với nhau.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị: Bị cáo C tích cực giúp đỡ cơ quan điều tra phát hiện tội phạm (03 lần) được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt với bị cáo C. Căn cứ quy định tại khoản 9 Điều 2 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 áp dụng cho bị cáo Đ và bị cáo Kiểm được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cả hai bị cáo Đ, K đều giao nộp thêm tài liệu mới là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho Đ, K được hưởng án treo. Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A-348.29 bị cáo C chỉ sử dụng là phương tiện đi lại, chiếc xe ô tô này không vận chuyển số pháo nổ (pháo hoa nổ) C đã mua được, không vận chuyển chở đi bán cho bị cáo H4 và T2; không phải là công cụ, phương tiện bị cáo C đã dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo C. Đề nghị HĐXX:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, d khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; chấp nhận kháng cáo xin trả lại chiếc xe ô tô BKS 98A - 348.29 của bị cáo Nguyễn Đức C: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 05 năm 06 tháng tù về tội "Buôn bán hàng cấm”; Trả lại chiếc xe ô tô con loại 05 chỗ ngồi, biển kiểm soát 98A-348.29 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cho bị cáo Nguyễn Đức C.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Huy Đ, Nguyễn Văn K: Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy Đ và bị cáo Nguyễn Văn K mỗi bị cáo 03 năm tù về tội "Buôn bán hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
* Các bị cáo không tranh luận gì.
* Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều đề nghị chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo về loại hàng hóa bị cáo vận chuyển phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Bị cáo Nguyễn Đức C mua pháo nổ của người khác, chưa xác định được là ai tổng cộng 615 thùng pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối lượng 11.036,8 kg rồi đem về kho hàng thuê trước đó của ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1962, tại thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn H, xã T, tỉnh Bắc Ninh) cất giấu, mục đích để bán cho người khác. Đêm ngày 17/12/2024, C thuê Nguyễn Huy Đ và Nguyễn Văn K bốc xếp tổng cộng 48 thùng pháo nổ, có tổng khối lượng 867 kg lên xe ô tô đem bán cho Vũ Quang T2, Đỗ Văn H4 là người góp tiền mua pháo nổ chung, với giá tiền 6.000.000 đồng/01 thùng. Khoảng 23 giờ ngày 17/12/2024, T2 cùng H4 điều khiển xe ô tô chở số pháo nổ mua được nêu trên đến đoạn đường ở thôn B, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thì đỗ xe lại. Sau đó, H4, T2 bốc 12 thùng pháo nổ từ xe ô tô giấu xuống ruộng để chờ bán cho người khác thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng nêu trên. Cơ quan điều tra tiếp tục khám xét khẩn cấp kho hàng nêu trên của C đã thu giữ được tổng cộng 567 thùng pháo nổ, có tổng khối lượng 10.169,8 kg còn lại của C cất giấu để bán nhưng chưa bán được. Nguyễn Huy Đ và Nguyễn Văn K đã được C trả mỗi người 500.000 đồng tiền công bốc xếp pháo nổ thuê cho C.
Khi thực hiện hành vi các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình gây ra là vi phạm pháp luật và đều biết buôn bán pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi buôn bán pháo nổ đến cùng, hành vi của các bị cáo thể hiện bất chấp pháp luật, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan sai.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh để đảm bảo tính giáo dục đối với các bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đức C, Hội đồng xét xử thấy: Tại cơ quan điều tra cũng như phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trong vụ án bị cáo C là người trực tiếp mua 11.036,8 kg pháo nổ để bán cho người khác, bị cáo phải chịu độc lập về hành vi 10.169,8 kg pháo hoa nổ, bị cáo đã bán được 867 kg pháo nổ cho bị cáo T2 và H4, bị cáo có vai trò chính trong việc bán pháo hoa nổ với T2 và H4, là người vì động cơ vụ lợi, đã buôn bán pháo hoa nổ với số lượng lớn nhằm mục đích thu lợi bất chính. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu. Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt C 05 năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm” Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt C 08 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm” do thay đổi chính sách pháp luật bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tại hai bản án trên nhưng bị cáo lại không lấy đó làm bài học để sửa sai mà tiếp tục có hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải có hình phạt tương xứng cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo xuất trình tài liệu mới, khác so với phiên tòa sơ thẩm: Tháng 8/2025 bị cáo giúp cơ quan điều tra phát hiện tội phạm, cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án 2 vụ án hình sự: 01 vụ án về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 01 vụ án về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy, áp dụng cho bị cáo C tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo C 09 năm 06 tháng tù là đảm bảo tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy bị cáo C có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tại phiên tòa thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới, khác so với phiên tòa sơ thẩm. Do vậy HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng dưới mức khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[3]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Huy Đ, Nguyễn Văn K, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại cơ quan điều tra cũng như phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Đ, K cùng đồng phạm với nhau đối với hành vi mua bán 867 kg pháo nổ với bị cáo Nguyễn Đức C. Tuy nhiên Đ, K chỉ là người bốc hàng thuê đến khi biết là pháo nổ vẫn tiếp tục bốc xếp hàng bình thường và bốc nốt số lượng pháo nổ còn lại sau đó được nhận thêm tiền bốc hàng sau khi biết là pháo nổ. Do vậy, Đ, K vai trò cuối cùng trong vụ án và xác định các bị cáo phạm tội lần đầu, nhận thức do thiếu hiểu biết, có vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể trong vụ án như bản án sơ thẩm nhận định là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm hai bị cáo xuất trình trình tiết giảm nhẹ mới khác so với phiên tòa sơ thẩm cụ thể:
Bị cáo Đ tự nguyện nộp lại số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính. Năm 2024 được chủ tịch UBND xã Đ tặng giấy khen có thành tích trong phong trào xóa nhà tạm nhà dột và năm 2013 được tặng giấy khen đạt tiêu chuẩn gia đình hiếu học. Do vậy, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt với bị cáo Đ.
Bị cáo K được chính quyền địa phương xác nhận là công dân chấp hành tốt chính sách pháp luật ở địa phương, tham gia mọi hoạt động do địa phương phát động, là gia đình văn hóa. Tháng 11/2025 được Chủ tịch UBND xã tặng giấy khen có thành tích xuất sắc trong vận hành chính quyền địa phương. Do vậy, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt với bị cáo K.
Hội đồng xét xử thấy: Căn cứ quy định tại điểm b khoản 9 Điều 2 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 Bộ luật hình sự, bị cáo Đ, K phạm tội lần đầu, đều là người cao tuổi, nhận thức do thiếu hiểu biết, có vai trò thứ yếu không đáng kể trong vụ án đồng phạm về tội rất nghiêm trọng nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự; có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có địa chỉ cư trú rõ ràng nên việc không bắt bị cáo Đ, K phải chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm.
Để đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước không cần phạt tù giam bị cáo Đ, K, mà cho 02 bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo Đ, K được hưởng án treo là phù hợp hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018; Văn bản số 03/VBHN ngày 10/7/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 65 Bộ luật hình sự.
[4]. Xét kháng cáo của bị cáo C xin lại chiếc xe ô tô, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 98A-348.29 đăng ký chính chủ mang tên Nguyễn Đức C. Ngày 28/9/2024, C thế chấp chiếc xe ô tô trên cho anh Nguyễn Văn H3, (chủ cơ sở kinh doanh cầm đồ) để vay tiền, sau khi thế chấp anh H3 có cho C mượn lại chiếc xe trên để đi lại. Vào tối ngày 24/11/2024, khi T4 mua được 615 thùng pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối lượng 11.036,8 kg để trên xe ô tô đầu kéo đi về đường vành đai Khu công nghiệp P thuộc phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (cạnh Quốc lộ A) để giao cho bị cáo C; bị cáo C đã thuê xe tô tô tải của H4 rồi thuê người bốc xếp pháo; bị cáo C đến chỗ hẹn với T4 bằng tô tô biển kiểm soát 98A-348.29, sau khi bốc xếp pháo lên xe ô tô tải của H4 xong, T4 và ba người bốc vác lên xe ô tô của C rồi cùng ô tô tải của H4 đến kho hàng đã thuê để cất giấu pháo. Đến ngày 17/12/2024, sau khi thuê anh T5, bị cáo Đ, K đi bốc vác 48 thùng pháo nổ (pháo hoa nổ) để bán cho bị cáo H4, T2; bị cáo C chở anh T5; bị cáo Đ, K bằng tô tô biển kiểm soát 98A-348.29 đi đến chỗ hẹn với H4. Sau khi giao pháo nổ cho H4, T2 xong bị cáo C chở anh T5 cùng bị cáo Đ, K đi về nhà. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A-348.29 mua trong trời kỳ hôn nhân của bị cáo C và chị Phạm Thị H là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và được sử dụng làm phương tiện cho gia đình bị cáo C; các lần bị cáo C đã điều khiển chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A-348.29 chỉ sử dụng là phương tiện đi lại, không vận chuyển số pháo nổ (pháo hoa nổ) C đã mua được, không vận chuyển chở pháo nổ đi bán cho bị cáo H4 và T2; xác định chiếc chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A-348.29 không phải là công cụ, phương tiện bị cáo C đã dùng vào việc phạm tội nên không cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước mà trả lại cho bị cáo C chiếc xe ô tô BKS 98A - 348.29, số máy H995607204PT, số khung 2BG2FH995607 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 063284 ngày 20/10/2020 do phòng C3 Công an tỉnh B đã cấp cho bị cáo C theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp như đề nghị của đại diện của Viện kiểm sát là có căn cứ.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, d, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A-348.29 của bị cáo Nguyễn Đức C. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Huy Đ, Nguyễn Văn K. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2025/HS-ST ngày 01/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Huy Đ, Nguyễn Văn K và sửa quyết định xử lý vật chứng đối với chiếc xe ô tô BKS 98A – 348.29 của bị cáo Nguyễn Đức C.
1. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội "Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ 09/01/2025 đến ngày 26/02/2025.
2. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190; điểm i, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 2 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy Đ 03 (ba) năm tù về tội "Buôn bán hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Huy Đ cho UBND xã B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
3. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 2 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 03 (ba) năm tù về tội "Buôn bán hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn K cho UBND xã B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo, bị cáo Đ, Kiểm thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Nguyễn Đức C 01 chiếc xe ô tô con loại 05 chỗ ngồi, biển kiểm soát 98A-348.29 số máy H995607204PT, số khung 2BG2FH995607 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 063284 ngày 20/10/2020 do phòng C3 Công an tỉnh B đã cấp cho Nguyễn Đức C.
5. Về án phí HSPT: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Huy Đ, Nguyễn Văn K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn K đã nộp số tiền thu lợi bất chính 500.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0003046 ngày 01/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận bị cáo Nguyễn Huy Đ đã nộp số tiền thu lợi bất chính 500.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0003045 ngày 01/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận bị cáo Nguyễn Đức C đã nộp tiền án phí HSST 200.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0003043 ngày 01/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 120/2025/HS-PT ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự phúc thẩm về tội "buôn bán hàng cấm"
- Số bản án: 120/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội "Buôn bán hàng cấm"
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Cường - Buôn bán hàng cấm
