Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 110/2025/HS-PT

Ngày: 17/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà; bà Nguyễn Tuyết Mai.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hùng Hoàng Hiệp - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thiện Nhân – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 154/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh.

Bị cáo có kháng cáo: Phạm Văn Đ, sinh ngày 08/3/2008 (tính đến ngày phạm tội bị cáo 17 tuổi 01 tháng 13 ngày); nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1987 và bà Phạm Thị D, sinh năm 1988; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh B; có mặt.

Đại diện theo pháp luật của bị cáo Đ: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1987 (là bố đẻ của bị cáo). Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm T. Địa chỉ: Số H đường P, phường K, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 20 phút ngày 21/4/2025, tại khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu phố X, phường T, tỉnh Bắc Ninh). Lực lượng Công an tỉnh B phát hiện và bắt quả tang Phạm Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của Đ đang mặc 01 gói nhỏ được bọc ngoài là 02 lớp giấy màu bạc mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy Heroine); 01 chiếc điện thoại Iphone X màu đen, lắp sim số 0856.662.088.

Tại Kết luận giám định số 944/KL - KTHS ngày 24/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: "Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng 02 lớp giấy bạc gửi giám định có khối lượng là 0,1236 gam là ma túy Heronie".

Ngày 23/4/2025, Đ khai nhận nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trên là do Đoàn mua của Phạm Bá H2, sinh năm 1977, trú tại: Nhà số B ngõ G, khu phố N, phường Đ, thành phố T (nay là nhà số B ngõ G, khu phố N, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh). Hồi 00 giờ 30 phút ngày 24/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiến hành khám xết khẩn cấp chỗ ở nêu trên của Phạm Bá H2. Khi thấy lực lượng Công an đến nhà H2 đã bỏ trốn. Quá trình khám xét đã thu giữ:

  • + 02 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) tại sân nhà H2, vị trí cách mép tưởng hướng Đông Nam 1,7m, cách mép tường hướng Đông Bắc 4,7m (được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu K1)
  • + 01 gói giấy màu bạc, bên trong có lớp giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) tại phòng khách nhà H2, vị trí cách mép tường hướng Đông Nam 4,8m, cách mép tường hướng Đông Bắc 2,1m (được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu K2)
  • + 03 gói giấy màu bạc, bên trong có lớp giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) tại mặt bậc cầu thang thứ 5 trong nhà H2 (được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu K3)
  • + Thu giữ trong phòng ngủ của H2: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các viên nén màu hồng (được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu K5); 04 xi lanh bên trong chứa chất bột màu trắng (được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu K6); 01 điện thoại Iphone màu xám có ốp điện thoại màu vàng, bên trong ốp điện thoại có 01 căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Bá H2, sinh năm 1977, nơi thường trú: N, Đ, TP ., Bắc Ninh, cấp ngày 23/8/2022; 01 đầu thu Camera màu đen nhãn hiệu @hua đã qua sử dụng; 01 cân tiểu ly màu trắng, 01 dao lam màu trắng, 08 mảnh giấy bạc kích thước 4x4cm; 01 con dao chuôi gỗ, lưỡi kim loại, một lưỡi sắc, dài 33,5cm, chuôi dao dài 11,5 cm, lưỡi dao dài 20cm, bản rộng 05 cm.

Khi thấy lực lượng Công an đến khám xét nhà Phạm Bá H2 thì Trần Văn K, sinh năm 1985, trú tại thôn Đ, xã V, huyện T (nay là thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh) đã đến Công an phường Đ đầu thú và tự nguyện giao nộp: 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng 02 lớp giấy màu bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng. K khai nhận là ma túy vừa mua của Phạm Bá H2 với giá 500.000 đồng. Ngoài ra, K còn giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel màu đen, lắp sim số 0564.719.688. Khoát khai nhận đã dùng điện thoại trên liên lạc với số điện thoại 0357.008.xxx lưu trong danh bạ của K là "H3 khai" của H2 để hỏi mua ma tuý lúc 23 giờ 10 phút ngày 23/4/2025.

Tại Kết luận giám định số 968/KL - KTHS ngày 28/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:

  • Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K1 gửi giám định có khối lượng là 0,1001 gam là ma túy Heronie;
  • Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K2 gửi giám định có khối lượng là 0,1324 gam là ma túy Heronie;
  • Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K3 gửi giám định có khối lượng là 0,2453 gam là ma túy Heronie;
  • Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K6 gửi giám định có khối lượng là 1,0024 gam là ma túy Heronie;
  • Các viên nén màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu K5 gửi giám định có khối lượng là 4.5277 gam là ma túy Methamphetamine;
  • Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư không ghi ký hiệu gửi giám định có khối lượng là 0,0514 gam là ma túy Heronie.”

Tổng khối lượng ma túy thu giữ tại nhà Phạm Bá H2 là 6,0079 gam ma túy H4 và Methamphetamine.

Với nội dung trên, bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2025/HS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điều 115; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo Đ 12 tháng tù.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/9/2025, bị cáo Phạm Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử là đúng tuy nhiên bị cáo cho rằng mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là cao, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo (ông H) trình bày: Bị cáo phạm tội cũng một phần do gia đình mải làm ăn, không quản lý chặt chẽ bị cáo, ông chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình ông cũng như bị cáo còn nhỏ tuổi, hiểu biết pháp luật còn hạn chế vì vậy ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nội dung kháng cáo của bị cáo tại phiên tòa, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghe kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh và khung khoản áp dụng là đúng nên không tham gia tranh luận chỉ đề nghị xem xét nhân thân, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, trong suốt quá trình điều tra truy tố, xét xử đều có thái độ thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là người dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo đều nhất trí với ý kiến của người bào chữa và không bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Phạm Văn Đ có kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 22 giờ 20 phút ngày 21/4/2025, tại khu phố X, phường Đ, thành phố T (nay là khu phố X, phường T, tỉnh Bắc Ninh), Phạm Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1236 gam là ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an tỉnh B bắt quả tang. Do vậy, án sơ thẩm xét xử và tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo sinh ra trong gia đình lao động, đang độ tuổi ăn học nhưng không chịu học hành cũng như làm ăn chân chính mà đua đòi sa ngã vào con đường nghiện hút từ năm 2023 đến nay dẫn đến phạm vào tội nghiêm trọng. Mức hình phạt 12 tháng tù mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm với hành vi phạm tội của bị cáo, không nặng. Hơn nữa, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cũng như đại diện hợp pháp của bị cáo không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo nên giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 115; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên xử phạt: Phạm Văn Đ 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/4/2025.

  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị HàNguyễn Thị Minh Thu
Nguyễn Tuyết Mai

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam số 1- CA tỉnh BN;
  • - Phòng PC10 - CA tỉnh BN;
  • - TAND khu vực 7 - Bắc Ninh;
  • - CQĐT; VKS khu vực 7- Bắc Ninh;
  • - THSDS khu vực 7 - Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; NTGTT;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2025/HS-PT ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 110/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Đ - TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger